Tháo điểm nghẽn về thể chế cho đại học

Tôi cho rằng, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học.

Đại học tinh hoa

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngày 16/5/2026 là chỉ đạo có tầm chiến lược, không chỉ đối với riêng ĐHQGHN mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Tôi cho rằng, điểm sâu sắc trong bài phát biểu là, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhìn nhận ĐHQGHN trong cả chiều dài lịch sử, hiện tại và tương lai. ĐHQGHN không chỉ là cơ sở giáo dục đại học có truyền thống lâu đời, mà còn là biểu tượng của trí tuệ Việt Nam, nơi kết tinh khát vọng học thuật, đào tạo nhân tài và phụng sự đất nước.

Nhưng truyền thống chỉ thật sự có giá trị khi được chuyển hóa thành trách nhiệm và hành động. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, ĐHQGHN cần phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ giữ vai trò một trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu, mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội mang ý nghĩa rất lớn. Đó không chỉ là danh xưng, mà là sứ mệnh. ĐHQGHN phải gắn sự phát triển của mình với những yêu cầu lớn của đất nước; phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt; phải tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, chính sách mới và đóng góp thực chất cho sự phát triển quốc gia.

Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng ĐHQGHN trở thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo.

“Tinh hoa” ở đây không chỉ được hiểu là tuyển chọn những người giỏi, mà cao hơn, phải là tinh hoa về chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu, năng lực sáng tạo công nghệ, uy tín quốc tế và đóng góp thực tế cho đất nước.

Một đại học tinh hoa phải là nơi hội tụ các nhà khoa học lỗi lạc, các nhà khoa học xuất sắc, các chuyên gia công nghệ đầu ngành, các sinh viên ưu tú, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các nhà hoạch định chính sách. Ở đó, tri thức không chỉ nằm trong giáo trình, phòng thí nghiệm hay các bài báo khoa học, mà phải được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và giá trị phát triển cho xã hội.

Muốn thực hiện được yêu cầu đó, theo tôi, trước hết ĐHQGHN cần đổi mới căn bản mô hình quản trị đại học. ĐHQGHN cần được quản trị theo mục tiêu, theo chất lượng, theo sản phẩm đầu ra và theo tác động xã hội.

Mô hình “one VNU – một ĐHQGHN” và nguồn lực được khai thác chung, nhưng mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi phòng thí nghiệm, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và trách nhiệm rõ ràng.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế

Chúng ta không thể chỉ đánh giá đại học bằng quy mô tuyển sinh, số lượng đề tài hay số bài báo công bố. Những tiêu chí đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Cần phải đánh giá bằng chất lượng công bố, số bằng sáng chế, số sản phẩm công nghệ được chuyển giao, số doanh nghiệp khoa học – công nghệ được hình thành, số chính sách được tư vấn, số nhân tài được đào tạo và mức độ đóng góp thực chất cho đất nước.

Phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học. Một đại học muốn sáng tạo thì không thể bị ràng buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc.

Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không được biến thành sự gia tăng thủ tục. Cần trao cho ĐHQGHN quyền tự chủ và chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, sử dụng nguồn lực, hợp tác quốc tế, thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ, triển khai các hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, đến năm 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, và một số ngành mũi nhọn vào nhóm 100 toàn cầu, thì cơ chế, đầu tư dành cho ĐHQGHN cũng phải tương xứng với mục tiêu đó. Không thể yêu cầu một đại học cạnh tranh quốc tế nhưng lại vận hành bằng những cơ chế chưa đủ linh hoạt và chưa đủ sức hấp dẫn nhân tài.

Ngoài ra, cần đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực mũi nhọn. ĐHQGHN là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng đa ngành không có nghĩa là đầu tư dàn trải. Cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế, có nền tảng khoa học mạnh và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước để đầu tư đến ngưỡng. Đó có thể là trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, khoa học bền vững, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học.

Trong mỗi lĩnh vực, cần hình thành các trung tâm xuất sắc, các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn quốc tế. Những nhóm này phải có trưởng nhóm đủ uy tín, có đội ngũ kế cận, có nghiên cứu sinh giỏi, có phòng thí nghiệm hiện đại, có hợp tác quốc tế thực chất và có ngân sách ổn định dài hạn. Không thể có nghiên cứu đỉnh cao nếu đầu tư ngắn hạn, manh mún và thiếu tính liên tục.

Cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của đất nước. Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng, là “đầu ra” của hoạt động KHCN. Đại học không thể chỉ nghiên cứu những gì mình có, mà cần nghiên cứu những gì đất nước đang cần và sẽ cần.

ĐHQGHN cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, như chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, đô thị thông minh, kinh tế xanh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, phát triển văn hóa số và xây dựng con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

“Túi khôn” của quốc gia

ĐHQGHN phải trở thành “túi khôn” của quốc gia. Khi Nhà nước cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược, ĐHQGHN phải là một địa chỉ tin cậy. Khi doanh nghiệp cần công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình đổi mới sáng tạo, ĐHQGHN phải là một đối tác chiến lược. Khi địa phương cần mô hình phát triển, chuyển đổi số, quản trị đô thị, phát triển nguồn nhân lực, ĐHQGHN phải có khả năng đồng hành.

Phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị ĐHQGHN tại Hòa Lạc cần được phát triển như một thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới. Việc kết nối với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cần được triển khai bằng các chương trình cụ thể: phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp spin-off từ đại học, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và không gian sáng tạo cho sinh viên, giảng viên, nhà khoa học.

Một đại học đổi mới sáng tạo phải tạo được dòng chảy liên tục từ đào tạo đến nghiên cứu, từ nghiên cứu đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng đại học. Đó mới là hệ sinh thái đại học hiện đại.

Chính sách nhân tài

Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh nhân tài. Muốn ĐHQGHN vươn lên tầm khu vực và quốc tế, phải có chính sách đủ mạnh để thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.

Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở lời mời gọi, mà phải đi kèm điều kiện làm việc, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, kinh phí, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường khoa học chuyên nghiệp.

Đặc biệt, cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ phát triển độc lập. Một đại học mạnh phải có các thế hệ kế cận mạnh. Các nhà khoa học trẻ cần được giao nhiệm vụ lớn, được hỗ trợ xây dựng nhóm nghiên cứu, được kết nối quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.

Trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, đại học không thể chỉ truyền đạt tri thức có sẵn. Đại học phải đào tạo con người có tư duy phản biện, năng lực tự học, năng lực liên ngành, năng lực số, ngoại ngữ, tinh thần sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội. Sinh viên ĐHQGHN phải được chuẩn bị không chỉ để có việc làm, mà để có khả năng dẫn dắt, thích ứng và tạo ra giá trị mới.

Các chương trình đào tạo cần linh hoạt hơn, liên ngành hơn và gắn với thực tiễn hơn. Những bài toán lớn hiện nay đều là bài toán liên ngành. Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công nghệ thông tin, mà còn liên quan đến toán học, đạo đức, luật, giáo dục và quản trị. Bán dẫn không chỉ là kỹ thuật điện tử, mà còn liên quan đến vật lý, vật liệu, thiết kế, công nghiệp chế tạo và chuỗi cung ứng. Phát triển bền vững không chỉ là môi trường, mà còn là kinh tế, xã hội, công nghệ và chính sách công.

Nền tảng để hội nhập quốc tế

Để đạt được mục tiêu đó, ĐHQGHN cần có Quy chế đào tạo riêng, có những khác biệt với Quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT để thí điểm triển khai các chương trình đào tạo mới, các ngành mới, các mô hình đào tạo mới chưa từng có trong tiền lệ.

ĐHQGHN phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Phải là nơi có nền tảng khoa học cơ bản mạnh. Vì khoa học cơ bản không mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Đây phải là nơi các nhà khoa học lỗi lạc, học giả lớn, các nhà lãnh đạo, các trường đại học hàng đầu, các tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế tìm đến để trao đổi tri thức, hợp tác nghiên cứu và hiểu hơn về Việt Nam.

Nội lực và sức mạnh về khoa học cơ bản mạnh còn là nền tảng để hội nhập quốc tế. Ngoại giao học thuật trên nền tảng uy tín về học thuật không chỉ giúp nâng cao thứ hạng đại học, mà còn góp phần lan tỏa sức mạnh mềm, bản sắc văn hóa và uy tín quốc gia.

Một đại học lớn phải có tinh thần tự do học thuật, liêm chính khoa học, tranh luận học thuật lành mạnh và khát vọng phụng sự. Người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn phải truyền cảm hứng, nhân cách, niềm tin vào khoa học và trách nhiệm với đất nước. Người học không chỉ học để lập thân, mà còn phải học để phụng sự cộng đồng và đóng góp cho quốc gia.

Theo tôi, sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ĐHQGHN cần sớm xây dựng một chương trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến 2035. Chương trình đó cần xác định rõ những ngành nào phấn đấu vào nhóm hàng đầu châu Á, những ngành nào vào nhóm 100 thế giới, những trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, những công nghệ nào cần làm chủ, những sản phẩm nào cần hình thành, những chính sách nào cần tư vấn và những chương trình đào tạo nào cần đổi mới.

Cùng với đó, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ĐHQGHN với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Giáo dục đại học không thể phát triển nếu tách khỏi nhu cầu phát triển quốc gia. Khoa học công nghệ không thể mạnh nếu thiếu đặt hàng lớn.

Đổi mới sáng tạo không thể thành công nếu thiếu doanh nghiệp và thị trường. Vì vậy, ĐHQGHN – với sứ mệnh nòng cột trong hệ thống giáo dục đại học của quốc gia – cần đứng ở vị trí trung tâm của mạng lưới tri thức – chính sách – công nghệ – doanh nghiệp – xã hội.

Tôi cho rằng phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một yêu cầu rất rõ: ĐHQGHN phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn. Đây vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm rất lớn. ĐHQGHN đã có truyền thống, có đội ngũ, có vị thế, có niềm tin của Đảng, Nhà nước và xã hội. Điều quan trọng hiện nay là biến niềm tin đó thành chương trình hành động, biến mục tiêu thành kết quả, biến truyền thống thành động lực phát triển mới.

Tôi vô cùng cảm động khi tại Lễ mít tinh kỷ niệm 120 năm ĐHQGHN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò ĐHQGHN. 120 năm ĐHQGHN với những trang sử vẻ vang, tự hào.

Với bề dày 120 năm, với khát vọng đổi mới và với sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi tin tưởng rằng ĐHQGHN có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm ĐHQGHN: Thông điệp cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội là những chỉ đạo có ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với riêng Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam

Tôi vô cùng cảm động khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò Đại học Quốc gia Hà Nội. 120 năm Đại học Quốc gia Hà Nội với những trang sử vẻ vang, tự hào.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày giới thiệu tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày giới thiệu tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN

Tôi cho rằng điểm rất sâu sắc trong bài phát biểu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là đã đặt Đại học Quốc gia Hà Nội trong dòng chảy lịch sử 120 năm của nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam, nhưng đồng thời không dừng lại ở niềm tự hào quá khứ.

Truyền thống chỉ thật sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành trách nhiệm hiện tại và năng lực kiến tạo tương lai. Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội vì vậy không chỉ là danh xưng, mà là một lời cam kết: phải phụng sự quốc gia, phải giải quyết những bài toán lớn của đất nước, phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt và phải tạo ra tri thức mới có giá trị cho Việt Nam và thế giới.

Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo. Tinh hoa ở đây không nên hiểu hẹp là một môi trường đào tạo chọn lọc về đầu vào, mà phải được đo bằng chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu đỉnh cao, khả năng tạo ra công nghệ chiến lược, sức ảnh hưởng chính sách và năng lực phụng sự đất nước. Một đại học tinh hoa phải là nơi những nhà khoa học giỏi nhất, lỗi lạc nhất, những sinh viên xuất sắc nhất, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng gặp nhau để giải quyết những vấn đề mà quốc gia cần, từng đơn vị riêng lẻ không thể giải quyết được.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Đổi mới mạnh mẽ quản trị đại học

Để thực hiện được nhiệm vụ này, theo tôi trước hết cần đổi mới mạnh mẽ quản trị đại học.

Đại học Quốc gia Hà Nội cần được vận hành theo nguyên tắc quản trị bằng mục tiêu, bằng sản phẩm đầu ra và bằng tác động xã hội. Mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và cơ chế đánh giá rõ ràng.

Không thể chỉ đo thành tích bằng số lượng đề tài, số lượng công bố hay quy mô tuyển sinh, mà phải đo bằng chất lượng công bố, số lượng bằng sáng chế, sản phẩm công nghệ được ứng dụng, chính sách được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ được hình thành, và đóng góp cụ thể cho các ngành kinh tế – xã hội.

Thứ hai, phải tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế và cơ chế tự chủ. Đại học muốn sáng tạo thì không thể bị trói buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc. Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không nên biến thành thủ tục hóa. Luật Giáo dục đã có Điều 12 quy định về tự chủ cao của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng các chính sách quy định của các bộ, ngành triển khai điều này của Luật còn chậm và chưa thực sự “cởi trói” mạnh mẽ về tự chủ cho Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi sổ vàng lưu niệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi sổ vàng lưu niệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi cho rằng, để thực hiện thành công chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hôm nay, thời gian tới cần trao cho Đại học Quốc gia Hà Nội quyền chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, đặt hàng nghiên cứu, hợp tác quốc tế, sử dụng tài sản công, thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ và phân bổ nguồn lực nội bộ. Một đại học quốc gia muốn cạnh tranh với các đại học hàng đầu châu Á và thế giới, thì cần có cơ chế đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ khác biệt.

Thứ ba, cần xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc theo chuẩn quốc tế. Muốn có ngành mũi nhọn vào nhóm 100 thế giới, không thể đầu tư dàn trải. Đại học Quốc gia Hà Nội cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước, như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, khoa học bền vững, năng lượng mới, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học. Với mỗi lĩnh vực, cần hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu liên ngành có trưởng nhóm đủ uy tín, đội ngũ kế cận mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại, ngân sách ổn định dài hạn và cơ chế thu hút chuyên gia giỏi của quốc tế.

Thứ tư, cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của quốc gia. Đây là điểm rất quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Đại học không thể chỉ là nơi sản xuất tri thức trong phạm vi hẹp của bài báo khoa học. Tri thức đại học phải trở thành chính sách tốt hơn, công nghệ tốt hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, địa phương phát triển hơn và đời sống nhân dân tốt hơn.

Đại học Quốc gia Hà Nội cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, chẳng hạn: chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, mô hình đô thị thông minh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, kinh tế xanh, văn hóa số và phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Thứ năm, phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc cần được nhìn như một “thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo”, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới.

Việc kết nối hữu cơ với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc là định hướng rất đúng. Ở đó, cần có phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm đại học, không gian làm việc chung cho sinh viên khởi nghiệp, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và cơ chế để giảng viên – sinh viên có thể đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Một đại học đổi mới sáng tạo phải cho phép tri thức đi từ bài giảng đến phòng thí nghiệm, từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng nghiên cứu.

Thứ sáu, cần có chính sách đột phá về nhân tài. Cạnh tranh đại học ngày nay trước hết là cạnh tranh nhân tài. Đại học Quốc gia Hà Nội phải có cơ chế thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.

Các đại biểu tham dự Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội
Các đại biểu tham dự Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội

Muốn vậy, chính sách đãi ngộ không thể chỉ dựa vào lương hành chính. Cần có gói hỗ trợ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhóm trợ lý, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường làm việc chuyên nghiệp. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ có thể phát triển độc lập, đứng đầu nhóm nghiên cứu, tham gia mạng lưới quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.

Thứ bảy, phải đổi mới đào tạo theo hướng khai phóng, liên ngành và gắn với năng lực tương lai. Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ cần kiến thức chuyên môn, mà cần tư duy phản biện, năng lực số, ngoại ngữ, khả năng làm việc liên ngành, tinh thần phụng sự và bản lĩnh hội nhập.

Các chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt hơn, cho phép sinh viên học giữa các ngành, kết hợp khoa học cơ bản với công nghệ, nhân văn với dữ liệu, kinh tế với đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên AI, giáo dục đại học không thể chỉ truyền đạt kiến thức có sẵn, mà phải dạy người học biết đặt câu hỏi đúng, biết học suốt đời, biết sử dụng công nghệ có trách nhiệm và biết sáng tạo giá trị mới.

Thứ tám, cần nâng cao vai trò của Đại học Quốc gia Hà Nội như một “túi khôn” của quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội có đội ngũ trí thức đa ngành, có nền tảng khoa học cơ bản, khoa học xã hội, nhân văn, công nghệ, kinh tế, luật, giáo dục và y sinh. Đây là lợi thế rất đặc biệt.

Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng thường xuyên để Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tư vấn chính sách chiến lược, phản biện khoa học, đánh giá tác động chính sách và xây dựng các mô hình phát triển mới. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải biết dựa vào tri thức, và một đại học quốc gia phải đủ năng lực để cung cấp luận cứ khoa học cho những quyết sách lớn.

Thứ chín, cần đẩy mạnh ngoại giao học thuật. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu, đại học không chỉ là cơ sở đào tạo mà còn là một chủ thể quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội cần trở thành “điểm đến” của các học giả lớn, nguyên thủ, nhà hoạch định chính sách, tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế.

Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng công bố quốc tế, mở rộng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, phát triển các chương trình liên kết có chọn lọc, tham gia mạnh hơn vào các mạng lưới đại học hàng đầu và xây dựng hình ảnh học thuật Việt Nam chuyên nghiệp, văn minh, có bản sắc.

Thứ mười, cần đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp. Một đại học đổi mới sáng tạo phải có những con người có hoài bão và khát vọng, mạnh dạn dấn thân đổi mới sáng tạo. Thực hiện thật tốt và hiệu quả mô hình hợp tác bốn nhà: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp và nhà khoa học.

Tôi cũng cho rằng các nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ của riêng một đại học. Đây là thông điệp cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng ta phải chuyển mô hình từ đại học nghiên cứu sang đại học nghiên cứu đổi mới sáng tạo, từ tư duy “đào tạo theo khả năng sẵn có” sang tư duy “đào tạo theo nhu cầu phát triển quốc gia”; chuyển từ nghiên cứu phân tán sang nghiên cứu có trọng tâm; chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả; chuyển từ hợp tác hình thức sang liên kết thực chất giữa đại học – Nhà nước – doanh nghiệp – địa phương – xã hội.

Có thể thấy, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một định hướng chiến lược rất rõ ràng: Đại học Quốc gia Hà Nội phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ để xứng đáng với truyền thống 120 năm, mà còn để trở thành lực lượng tiên phong đưa giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Vấn đề quyết định hiện nay là hành động. Hành động phải quyết liệt, có trọng tâm, có sản phẩm, có trách nhiệm giải trình và có khát vọng lớn.

Với truyền thống vẻ vang, đội ngũ trí thức mạnh, vị thế quốc gia và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, tôi tin rằng Đại học Quốc gia Hà Nội có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.

Để triển khai hiệu quả các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, tôi đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể.

Một là, xây dựng chương trình hành động 5 năm cho Đại học Quốc gia Hà Nội sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Trong đó, xác định rõ các mục tiêu đến năm 2030: nhóm ngành nào vào top châu Á, nhóm ngành nào phấn đấu top 100 thế giới, trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, sản phẩm công nghệ nào phải hình thành, chính sách nào phải được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ nào phải được ươm tạo.

Hai là, thành lập các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia đặt tại Đại học Quốc gia Hà Nội, gắn với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Mỗi chương trình cần có cơ chế tài chính nhiều năm, hội đồng khoa học quốc tế, mục tiêu sản phẩm rõ ràng và sự tham gia của doanh nghiệp.

Ba là, ban hành cơ chế đặc thù cho Đại học Quốc gia Hà Nội về tài chính, nhân lực, hoạt động khoa học công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhà khoa học phải được hưởng lợi xứng đáng từ kết quả nghiên cứu. Phòng thí nghiệm phải có quyền hình thành doanh nghiệp spin-off. Sinh viên và nghiên cứu sinh phải được tham gia các dự án thật, sản phẩm thật, bài toán thật. Đại học Quốc gia cũng phải có Quy chế đào tạo đặc thù, với những chương trình thí điểm, mô hình thí điểm, có những điểm khác biệt với Quy chế của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Bốn là, thiết lập hệ thống đánh giá đại học theo tác động. Cần đánh giá không chỉ số lượng công bố, mà cả chất lượng học thuật, số trích dẫn, bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ, doanh thu từ đổi mới sáng tạo, số doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, số chính sách được tư vấn, số sinh viên có việc làm chất lượng cao và mức độ đóng góp cho địa phương, doanh nghiệp, quốc gia.

Năm là, đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản. Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể có công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Những lĩnh vực như toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học vật liệu, cơ học, khoa học máy tính, khoa học giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn phải được coi là nền móng của năng lực tự chủ tri thức quốc gia.

Sáu là, đổi mới mạnh chương trình đào tạo theo mô hình liên ngành. Các bài toán hiện đại không nằm gọn trong một ngành. AI cần toán học, khoa học máy tính, đạo đức, luật và quản trị. Bán dẫn cần vật lý, vật liệu, điện tử, thiết kế vi mạch và công nghiệp chế tạo. Phát triển bền vững cần kỹ thuật, kinh tế, xã hội học, luật và khoa học môi trường. Vì vậy, cần thiết kế lại các chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, mở, linh hoạt và gắn với thực tiễn.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội