Không có đại học mạnh, không thể có công nghệ lõi

Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.

Công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường ngắn hạn

Trong thế kỷ XXI, công nghệ đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia. Những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ, mà chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, việc xây dựng và triển khai chương trình công nghệ chiến lược mang ý nghĩa sống còn, không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh, tự chủ và phát triển bền vững.

Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy phát triển công nghệ chiến lược hiện nay là sự chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán quốc gia. Điều này thể hiện một bước tiến lớn về nhận thức: công nghệ không phải là điểm xuất phát, mà là công cụ để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước.

Theo đó, chuỗi logic phát triển cần được thiết kế theo hướng: từ bài toán quốc gia, đến sản phẩm chiến lược, đến công nghệ lõi và cuối cùng là thị trường. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng nghiên cứu rời rạc, thiếu định hướng và không gắn với thực tiễn – một hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN. Ảnh: Phạm Thắng

Trong cấu trúc đó, công nghệ lõi đóng vai trò trung tâm, là thước đo năng lực tự chủ quốc gia. Và chính tại điểm này, vai trò của các trường đại học trở nên đặc biệt quan trọng. Nếu doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm và thị trường, thì các viện nghiên cứu và trường đại học chính là nơi tạo ra tri thức nền tảng và phát triển công nghệ lõi. Đây là một phân công chiến lược, phản ánh đúng bản chất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại.

Các công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường ngắn hạn hay dưới áp lực thương mại tức thời. Chúng đòi hỏi quá trình nghiên cứu dài hạn, tích lũy tri thức sâu và một môi trường học thuật tự do, sáng tạo. Đại học, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, chính là nơi duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn,… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học, trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.

Bên cạnh đó, đại học còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – yếu tố quyết định thành công của mọi chương trình công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu, sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế lại, trước hết phải có nền tảng kiến thức cơ bản thật hiện đại – bởi nếu không có nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu và mạnh, thì không thể nào vươn tới làm chủ công nghệ lõi, đồng thời đào tạo ở đại học phải gắn kết chặt chẽ với các bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược. Sinh viên không chỉ học để biết, mà học để làm, để thiết kế và để đổi mới.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Hình minh họa

Cơ hội lớn để các trường đại học tham gia sâu vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo

Một điểm đột phá khác trong chính sách phát triển công nghệ chiến lược là vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập thị trường. Thay vì chỉ tài trợ nghiên cứu, Nhà nước còn đóng vai trò là “người mua” đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược.

Đây là một công cụ mạnh, đã được nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc áp dụng thành công. Cách tiếp cận này giúp giải quyết một nút thắt quan trọng: đầu ra của nghiên cứu.

Đối với các trường đại học, điều này mở ra cơ hội lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo. Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh để có thể nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi thị trường được đảm bảo bởi các chính sách công, rủi ro thương mại hóa giảm đáng kể, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng.

Song song với đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo các bài toán lớn cũng giúp định hướng hoạt động khoa học công nghệ một cách hiệu quả hơn. Thay vì các đề tài nhỏ lẻ, phân tán, các trường đại học cần chuyển sang tham gia các chương trình lớn, mang tính liên ngành và có mục tiêu rõ ràng. Điều này đòi hỏi sự thay đổi cả về tổ chức nghiên cứu lẫn tư duy của các nhà khoa học, từ nghiên cứu cá nhân sang nghiên cứu theo nhóm mạnh, từ công bố khoa học sang tạo ra giá trị thực tiễn.

Một yếu tố quan trọng khác là vai trò của tiêu chuẩn trong phát triển công nghệ chiến lược. Khác với tư duy truyền thống, tiêu chuẩn không còn là bước đi sau cùng, mà phải đi trước để định hướng công nghệ và tạo lập thị trường. Việc xây dựng các tiêu chuẩn, kể cả dưới dạng pre-standard, sẽ giúp định hình hướng phát triển, tạo điều kiện cho đấu thầu, mua sắm và sản xuất hàng loạt.

Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn, thông qua nghiên cứu, đánh giá và so sánh quốc tế. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là một phần của chiến lược hội nhập và nâng cao vị thế khoa học của quốc gia.

Về mặt cơ chế, đổi mới tài chính và quản trị khoa học công nghệ cũng là một điều kiện cần thiết. Việc chuyển sang cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding” giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị nghiên cứu.

Tuy nhiên, đi kèm với tự chủ là trách nhiệm giải trình, được thể hiện thông qua hệ thống đánh giá theo bốn tầng: đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Đây là một cách tiếp cận hiện đại, giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, từ nghiên cứu đến ứng dụng và tác động xã hội.

Các trường đại học cần thực hiện một quá trình chuyển đổi toàn diện. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Tiếp theo, cần cải tiến chương trình để người học có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức quản lý đào tạo gắn với doanh nghiệp, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, triển khai hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước – doanh nghiệp – nhà khoa học và trường đại học.

Cần triển khai đào tạo các công trình sư, tổng công trình sư ở một số trường đại học công nghệ – kỹ thuật trọng điểm. Nhà nước cũng cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.

Sinh viên tài năng UET
Nhà nước cũng cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn. Ảnh: UET

Giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”

Với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi cần đổi mới tư duy, sử dụng và giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”.

Việt Nam cũng rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với cơ chế linh hoạt, cho phép các trường đại học thử nghiệm công nghệ mới mà không phải xin phép. Đây là điều kiện cần thiết để các trường đại học và các nhà khoa học mạnh dạn dấn thân vào phát triển các lĩnh vực liên quan đến các công nghệ cao liên quan đến an ninh, quốc phòng như UAV, camera AI, hay các lĩnh vực liên quan đến AI, năng lượng mới, đô thị thông minh,…

Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, mà còn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tự chủ đại học, để các trường đại học có thể phát huy tốt nhất, nhanh nhất mọi nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển.

Tựu trung lại, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ, mà là một chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong chiến lược đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều phối, doanh nghiệp đóng vai trò triển khai và thương mại hóa, còn các trường đại học giữ vai trò nền tảng – nơi hình thành tri thức, công nghệ lõi, nguồn nhân lực và nhà khoa học có vai trò then chốt trong hệ sinh thái sáng tạo trí thức, công nghệ.

Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.

Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá. Điều quan trọng là phải hành động một cách đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, các trường đại học cũng đang đứng trước một “cơ hội vàng” để phát triển.

Trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình – không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh ra tri thức và các công nghệ lõi, là trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia.

Đột phá khoa học công nghệ đưa Việt Nam phát triển hùng cường

Tin tưởng và kỳ vọng vào những nghị quyết trúng và đúng, những chính sách thiết thực có tầm chiến lược của Đảng, các nhà khoa học đã và đang quyết tâm cống hiến vì một Việt Nam hùng cường, trong đó khoa học công nghệ thực sự là đòn bẩy.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường ĐH Công nghệ ĐHQG Hà Nội

Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Trong đó phát triển công nghệ cao, KHCN là gốc, là giá trị cốt lõi.

Khoa học công nghệ – “Chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng

Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.

Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.

Khung chính sách ngày càng đồng bộ

Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ. Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.

Tháo gỡ rào cản thể chế

Việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học và một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã tháo gỡ những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp.

Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để Khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.

Kỳ vọng vào Đại hội XIV

Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia.

Đại hội XIV được kỳ vọng là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Không gian phát triển mới

Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Cơ hội lịch sử để bứt phá

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

Phát triển khoa học công nghệ: Chiếc đũa thần đưa Việt Nam phát triển hùng cường

Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Khoa học công nghệ – Động lực then chốt phát triển đất nước

Phóng viên: Thưa Giáo sư, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học, công nghệ là gốc, là giá trị cốt lõi.

Vai trò của giáo dục đại học trong mô hình tăng trưởng mới

Phóng viên: Xin Giáo sư chia sẻ cụ thể hơn về vai trò của khoa học, công nghệ và giáo dục đại học trong mô hình tăng trưởng mới?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững, thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước ta.

Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt. Các định hướng về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo… cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Các nhà khoa học kỳ vọng Đại hội XIV

Các nhà khoa học kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển

Kỳ vọng vào Đại hội XIV

Phóng viên: Tại Đại hội XIV đang diễn ra, đội ngũ trí thức và các nhà khoa học có những kỳ vọng gì, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này.

Trong đó, có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước. Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới, rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Niềm tin vào tương lai

Phóng viên: Giáo sư có niềm tin như thế nào về tương lai của đất nước sau kỳ Đại hội này?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

Đại hội của tầm nhìn, đổi mới và khát vọng phát triển

Bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn, sự nhạy bén của Đảng

Lịch sử đã chứng minh, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh Pháp, Hoa Kỳ…, gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc, đều rất quan tâm, chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học công nghệ được xác định là gốc, là giá trị cốt lõi.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Đại hội XIV

Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.

Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.

Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước nêu trên thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ. Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.

Bên cạnh đó, việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học cùng một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã góp phần quan trọng tháo gỡ kịp thời những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết viện – trường – doanh nghiệp.

Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội XIV

Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đồng thời giải quyết hiệu quả những bài toán lớn của đất nước.

Mở ra không gian phát triển mới cho khoa học công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng ta có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này. Trong đó, cần có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.

Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là kỳ Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

Đột phá khoa học và công nghệ: Động lực then chốt để phát triển đất nước

Vai trò then chốt

Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như: Anh Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, KHCN là gốc, là giá trị cốt lõi.

Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.

Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Thời điểm then chốt

Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước nêu trên thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ.

Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.

Sinh viên Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội

Bên cạnh đó, việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học và một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã tháo gỡ những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp.

Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để Khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đồng thời giải quyết hiệu quả những bài toán lớn của đất nước.

Đại hội XIV của Đảng sắp diễn ra có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này. Trong đó, có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.

Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội. Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.