Tháo điểm nghẽn về thể chế cho đại học

Tôi cho rằng, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học.

Đại học tinh hoa

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngày 16/5/2026 là chỉ đạo có tầm chiến lược, không chỉ đối với riêng ĐHQGHN mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Tôi cho rằng, điểm sâu sắc trong bài phát biểu là, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhìn nhận ĐHQGHN trong cả chiều dài lịch sử, hiện tại và tương lai. ĐHQGHN không chỉ là cơ sở giáo dục đại học có truyền thống lâu đời, mà còn là biểu tượng của trí tuệ Việt Nam, nơi kết tinh khát vọng học thuật, đào tạo nhân tài và phụng sự đất nước.

Nhưng truyền thống chỉ thật sự có giá trị khi được chuyển hóa thành trách nhiệm và hành động. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, ĐHQGHN cần phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ giữ vai trò một trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu, mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội mang ý nghĩa rất lớn. Đó không chỉ là danh xưng, mà là sứ mệnh. ĐHQGHN phải gắn sự phát triển của mình với những yêu cầu lớn của đất nước; phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt; phải tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, chính sách mới và đóng góp thực chất cho sự phát triển quốc gia.

Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng ĐHQGHN trở thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo.

“Tinh hoa” ở đây không chỉ được hiểu là tuyển chọn những người giỏi, mà cao hơn, phải là tinh hoa về chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu, năng lực sáng tạo công nghệ, uy tín quốc tế và đóng góp thực tế cho đất nước.

Một đại học tinh hoa phải là nơi hội tụ các nhà khoa học lỗi lạc, các nhà khoa học xuất sắc, các chuyên gia công nghệ đầu ngành, các sinh viên ưu tú, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các nhà hoạch định chính sách. Ở đó, tri thức không chỉ nằm trong giáo trình, phòng thí nghiệm hay các bài báo khoa học, mà phải được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và giá trị phát triển cho xã hội.

Muốn thực hiện được yêu cầu đó, theo tôi, trước hết ĐHQGHN cần đổi mới căn bản mô hình quản trị đại học. ĐHQGHN cần được quản trị theo mục tiêu, theo chất lượng, theo sản phẩm đầu ra và theo tác động xã hội.

Mô hình “one VNU – một ĐHQGHN” và nguồn lực được khai thác chung, nhưng mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi phòng thí nghiệm, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và trách nhiệm rõ ràng.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế

Chúng ta không thể chỉ đánh giá đại học bằng quy mô tuyển sinh, số lượng đề tài hay số bài báo công bố. Những tiêu chí đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Cần phải đánh giá bằng chất lượng công bố, số bằng sáng chế, số sản phẩm công nghệ được chuyển giao, số doanh nghiệp khoa học – công nghệ được hình thành, số chính sách được tư vấn, số nhân tài được đào tạo và mức độ đóng góp thực chất cho đất nước.

Phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học. Một đại học muốn sáng tạo thì không thể bị ràng buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc.

Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không được biến thành sự gia tăng thủ tục. Cần trao cho ĐHQGHN quyền tự chủ và chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, sử dụng nguồn lực, hợp tác quốc tế, thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ, triển khai các hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, đến năm 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, và một số ngành mũi nhọn vào nhóm 100 toàn cầu, thì cơ chế, đầu tư dành cho ĐHQGHN cũng phải tương xứng với mục tiêu đó. Không thể yêu cầu một đại học cạnh tranh quốc tế nhưng lại vận hành bằng những cơ chế chưa đủ linh hoạt và chưa đủ sức hấp dẫn nhân tài.

Ngoài ra, cần đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực mũi nhọn. ĐHQGHN là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng đa ngành không có nghĩa là đầu tư dàn trải. Cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế, có nền tảng khoa học mạnh và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước để đầu tư đến ngưỡng. Đó có thể là trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, khoa học bền vững, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học.

Trong mỗi lĩnh vực, cần hình thành các trung tâm xuất sắc, các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn quốc tế. Những nhóm này phải có trưởng nhóm đủ uy tín, có đội ngũ kế cận, có nghiên cứu sinh giỏi, có phòng thí nghiệm hiện đại, có hợp tác quốc tế thực chất và có ngân sách ổn định dài hạn. Không thể có nghiên cứu đỉnh cao nếu đầu tư ngắn hạn, manh mún và thiếu tính liên tục.

Cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của đất nước. Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng, là “đầu ra” của hoạt động KHCN. Đại học không thể chỉ nghiên cứu những gì mình có, mà cần nghiên cứu những gì đất nước đang cần và sẽ cần.

ĐHQGHN cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, như chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, đô thị thông minh, kinh tế xanh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, phát triển văn hóa số và xây dựng con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

“Túi khôn” của quốc gia

ĐHQGHN phải trở thành “túi khôn” của quốc gia. Khi Nhà nước cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược, ĐHQGHN phải là một địa chỉ tin cậy. Khi doanh nghiệp cần công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình đổi mới sáng tạo, ĐHQGHN phải là một đối tác chiến lược. Khi địa phương cần mô hình phát triển, chuyển đổi số, quản trị đô thị, phát triển nguồn nhân lực, ĐHQGHN phải có khả năng đồng hành.

Phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị ĐHQGHN tại Hòa Lạc cần được phát triển như một thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới. Việc kết nối với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cần được triển khai bằng các chương trình cụ thể: phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp spin-off từ đại học, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và không gian sáng tạo cho sinh viên, giảng viên, nhà khoa học.

Một đại học đổi mới sáng tạo phải tạo được dòng chảy liên tục từ đào tạo đến nghiên cứu, từ nghiên cứu đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng đại học. Đó mới là hệ sinh thái đại học hiện đại.

Chính sách nhân tài

Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh nhân tài. Muốn ĐHQGHN vươn lên tầm khu vực và quốc tế, phải có chính sách đủ mạnh để thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.

Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở lời mời gọi, mà phải đi kèm điều kiện làm việc, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, kinh phí, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường khoa học chuyên nghiệp.

Đặc biệt, cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ phát triển độc lập. Một đại học mạnh phải có các thế hệ kế cận mạnh. Các nhà khoa học trẻ cần được giao nhiệm vụ lớn, được hỗ trợ xây dựng nhóm nghiên cứu, được kết nối quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.

Trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, đại học không thể chỉ truyền đạt tri thức có sẵn. Đại học phải đào tạo con người có tư duy phản biện, năng lực tự học, năng lực liên ngành, năng lực số, ngoại ngữ, tinh thần sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội. Sinh viên ĐHQGHN phải được chuẩn bị không chỉ để có việc làm, mà để có khả năng dẫn dắt, thích ứng và tạo ra giá trị mới.

Các chương trình đào tạo cần linh hoạt hơn, liên ngành hơn và gắn với thực tiễn hơn. Những bài toán lớn hiện nay đều là bài toán liên ngành. Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công nghệ thông tin, mà còn liên quan đến toán học, đạo đức, luật, giáo dục và quản trị. Bán dẫn không chỉ là kỹ thuật điện tử, mà còn liên quan đến vật lý, vật liệu, thiết kế, công nghiệp chế tạo và chuỗi cung ứng. Phát triển bền vững không chỉ là môi trường, mà còn là kinh tế, xã hội, công nghệ và chính sách công.

Nền tảng để hội nhập quốc tế

Để đạt được mục tiêu đó, ĐHQGHN cần có Quy chế đào tạo riêng, có những khác biệt với Quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT để thí điểm triển khai các chương trình đào tạo mới, các ngành mới, các mô hình đào tạo mới chưa từng có trong tiền lệ.

ĐHQGHN phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Phải là nơi có nền tảng khoa học cơ bản mạnh. Vì khoa học cơ bản không mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Đây phải là nơi các nhà khoa học lỗi lạc, học giả lớn, các nhà lãnh đạo, các trường đại học hàng đầu, các tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế tìm đến để trao đổi tri thức, hợp tác nghiên cứu và hiểu hơn về Việt Nam.

Nội lực và sức mạnh về khoa học cơ bản mạnh còn là nền tảng để hội nhập quốc tế. Ngoại giao học thuật trên nền tảng uy tín về học thuật không chỉ giúp nâng cao thứ hạng đại học, mà còn góp phần lan tỏa sức mạnh mềm, bản sắc văn hóa và uy tín quốc gia.

Một đại học lớn phải có tinh thần tự do học thuật, liêm chính khoa học, tranh luận học thuật lành mạnh và khát vọng phụng sự. Người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn phải truyền cảm hứng, nhân cách, niềm tin vào khoa học và trách nhiệm với đất nước. Người học không chỉ học để lập thân, mà còn phải học để phụng sự cộng đồng và đóng góp cho quốc gia.

Theo tôi, sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ĐHQGHN cần sớm xây dựng một chương trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến 2035. Chương trình đó cần xác định rõ những ngành nào phấn đấu vào nhóm hàng đầu châu Á, những ngành nào vào nhóm 100 thế giới, những trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, những công nghệ nào cần làm chủ, những sản phẩm nào cần hình thành, những chính sách nào cần tư vấn và những chương trình đào tạo nào cần đổi mới.

Cùng với đó, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ĐHQGHN với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Giáo dục đại học không thể phát triển nếu tách khỏi nhu cầu phát triển quốc gia. Khoa học công nghệ không thể mạnh nếu thiếu đặt hàng lớn.

Đổi mới sáng tạo không thể thành công nếu thiếu doanh nghiệp và thị trường. Vì vậy, ĐHQGHN – với sứ mệnh nòng cột trong hệ thống giáo dục đại học của quốc gia – cần đứng ở vị trí trung tâm của mạng lưới tri thức – chính sách – công nghệ – doanh nghiệp – xã hội.

Tôi cho rằng phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một yêu cầu rất rõ: ĐHQGHN phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn. Đây vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm rất lớn. ĐHQGHN đã có truyền thống, có đội ngũ, có vị thế, có niềm tin của Đảng, Nhà nước và xã hội. Điều quan trọng hiện nay là biến niềm tin đó thành chương trình hành động, biến mục tiêu thành kết quả, biến truyền thống thành động lực phát triển mới.

Tôi vô cùng cảm động khi tại Lễ mít tinh kỷ niệm 120 năm ĐHQGHN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò ĐHQGHN. 120 năm ĐHQGHN với những trang sử vẻ vang, tự hào.

Với bề dày 120 năm, với khát vọng đổi mới và với sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi tin tưởng rằng ĐHQGHN có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm ĐHQGHN: Thông điệp cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội là những chỉ đạo có ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với riêng Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam

Tôi vô cùng cảm động khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò Đại học Quốc gia Hà Nội. 120 năm Đại học Quốc gia Hà Nội với những trang sử vẻ vang, tự hào.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày giới thiệu tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày giới thiệu tại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN

Tôi cho rằng điểm rất sâu sắc trong bài phát biểu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là đã đặt Đại học Quốc gia Hà Nội trong dòng chảy lịch sử 120 năm của nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam, nhưng đồng thời không dừng lại ở niềm tự hào quá khứ.

Truyền thống chỉ thật sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành trách nhiệm hiện tại và năng lực kiến tạo tương lai. Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội vì vậy không chỉ là danh xưng, mà là một lời cam kết: phải phụng sự quốc gia, phải giải quyết những bài toán lớn của đất nước, phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt và phải tạo ra tri thức mới có giá trị cho Việt Nam và thế giới.

Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo. Tinh hoa ở đây không nên hiểu hẹp là một môi trường đào tạo chọn lọc về đầu vào, mà phải được đo bằng chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu đỉnh cao, khả năng tạo ra công nghệ chiến lược, sức ảnh hưởng chính sách và năng lực phụng sự đất nước. Một đại học tinh hoa phải là nơi những nhà khoa học giỏi nhất, lỗi lạc nhất, những sinh viên xuất sắc nhất, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng gặp nhau để giải quyết những vấn đề mà quốc gia cần, từng đơn vị riêng lẻ không thể giải quyết được.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Đổi mới mạnh mẽ quản trị đại học

Để thực hiện được nhiệm vụ này, theo tôi trước hết cần đổi mới mạnh mẽ quản trị đại học.

Đại học Quốc gia Hà Nội cần được vận hành theo nguyên tắc quản trị bằng mục tiêu, bằng sản phẩm đầu ra và bằng tác động xã hội. Mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và cơ chế đánh giá rõ ràng.

Không thể chỉ đo thành tích bằng số lượng đề tài, số lượng công bố hay quy mô tuyển sinh, mà phải đo bằng chất lượng công bố, số lượng bằng sáng chế, sản phẩm công nghệ được ứng dụng, chính sách được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ được hình thành, và đóng góp cụ thể cho các ngành kinh tế – xã hội.

Thứ hai, phải tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế và cơ chế tự chủ. Đại học muốn sáng tạo thì không thể bị trói buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc. Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không nên biến thành thủ tục hóa. Luật Giáo dục đã có Điều 12 quy định về tự chủ cao của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng các chính sách quy định của các bộ, ngành triển khai điều này của Luật còn chậm và chưa thực sự “cởi trói” mạnh mẽ về tự chủ cho Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi sổ vàng lưu niệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi sổ vàng lưu niệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi cho rằng, để thực hiện thành công chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hôm nay, thời gian tới cần trao cho Đại học Quốc gia Hà Nội quyền chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, đặt hàng nghiên cứu, hợp tác quốc tế, sử dụng tài sản công, thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ và phân bổ nguồn lực nội bộ. Một đại học quốc gia muốn cạnh tranh với các đại học hàng đầu châu Á và thế giới, thì cần có cơ chế đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ khác biệt.

Thứ ba, cần xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc theo chuẩn quốc tế. Muốn có ngành mũi nhọn vào nhóm 100 thế giới, không thể đầu tư dàn trải. Đại học Quốc gia Hà Nội cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước, như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, khoa học bền vững, năng lượng mới, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học. Với mỗi lĩnh vực, cần hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu liên ngành có trưởng nhóm đủ uy tín, đội ngũ kế cận mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại, ngân sách ổn định dài hạn và cơ chế thu hút chuyên gia giỏi của quốc tế.

Thứ tư, cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của quốc gia. Đây là điểm rất quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Đại học không thể chỉ là nơi sản xuất tri thức trong phạm vi hẹp của bài báo khoa học. Tri thức đại học phải trở thành chính sách tốt hơn, công nghệ tốt hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, địa phương phát triển hơn và đời sống nhân dân tốt hơn.

Đại học Quốc gia Hà Nội cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, chẳng hạn: chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, mô hình đô thị thông minh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, kinh tế xanh, văn hóa số và phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Thứ năm, phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc cần được nhìn như một “thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo”, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới.

Việc kết nối hữu cơ với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc là định hướng rất đúng. Ở đó, cần có phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm đại học, không gian làm việc chung cho sinh viên khởi nghiệp, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và cơ chế để giảng viên – sinh viên có thể đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Một đại học đổi mới sáng tạo phải cho phép tri thức đi từ bài giảng đến phòng thí nghiệm, từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng nghiên cứu.

Thứ sáu, cần có chính sách đột phá về nhân tài. Cạnh tranh đại học ngày nay trước hết là cạnh tranh nhân tài. Đại học Quốc gia Hà Nội phải có cơ chế thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.

Các đại biểu tham dự Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội
Các đại biểu tham dự Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội

Muốn vậy, chính sách đãi ngộ không thể chỉ dựa vào lương hành chính. Cần có gói hỗ trợ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhóm trợ lý, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường làm việc chuyên nghiệp. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ có thể phát triển độc lập, đứng đầu nhóm nghiên cứu, tham gia mạng lưới quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.

Thứ bảy, phải đổi mới đào tạo theo hướng khai phóng, liên ngành và gắn với năng lực tương lai. Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ cần kiến thức chuyên môn, mà cần tư duy phản biện, năng lực số, ngoại ngữ, khả năng làm việc liên ngành, tinh thần phụng sự và bản lĩnh hội nhập.

Các chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt hơn, cho phép sinh viên học giữa các ngành, kết hợp khoa học cơ bản với công nghệ, nhân văn với dữ liệu, kinh tế với đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên AI, giáo dục đại học không thể chỉ truyền đạt kiến thức có sẵn, mà phải dạy người học biết đặt câu hỏi đúng, biết học suốt đời, biết sử dụng công nghệ có trách nhiệm và biết sáng tạo giá trị mới.

Thứ tám, cần nâng cao vai trò của Đại học Quốc gia Hà Nội như một “túi khôn” của quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội có đội ngũ trí thức đa ngành, có nền tảng khoa học cơ bản, khoa học xã hội, nhân văn, công nghệ, kinh tế, luật, giáo dục và y sinh. Đây là lợi thế rất đặc biệt.

Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng thường xuyên để Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tư vấn chính sách chiến lược, phản biện khoa học, đánh giá tác động chính sách và xây dựng các mô hình phát triển mới. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải biết dựa vào tri thức, và một đại học quốc gia phải đủ năng lực để cung cấp luận cứ khoa học cho những quyết sách lớn.

Thứ chín, cần đẩy mạnh ngoại giao học thuật. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu, đại học không chỉ là cơ sở đào tạo mà còn là một chủ thể quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội cần trở thành “điểm đến” của các học giả lớn, nguyên thủ, nhà hoạch định chính sách, tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế.

Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng công bố quốc tế, mở rộng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, phát triển các chương trình liên kết có chọn lọc, tham gia mạnh hơn vào các mạng lưới đại học hàng đầu và xây dựng hình ảnh học thuật Việt Nam chuyên nghiệp, văn minh, có bản sắc.

Thứ mười, cần đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp. Một đại học đổi mới sáng tạo phải có những con người có hoài bão và khát vọng, mạnh dạn dấn thân đổi mới sáng tạo. Thực hiện thật tốt và hiệu quả mô hình hợp tác bốn nhà: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp và nhà khoa học.

Tôi cũng cho rằng các nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ của riêng một đại học. Đây là thông điệp cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng ta phải chuyển mô hình từ đại học nghiên cứu sang đại học nghiên cứu đổi mới sáng tạo, từ tư duy “đào tạo theo khả năng sẵn có” sang tư duy “đào tạo theo nhu cầu phát triển quốc gia”; chuyển từ nghiên cứu phân tán sang nghiên cứu có trọng tâm; chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả; chuyển từ hợp tác hình thức sang liên kết thực chất giữa đại học – Nhà nước – doanh nghiệp – địa phương – xã hội.

Có thể thấy, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một định hướng chiến lược rất rõ ràng: Đại học Quốc gia Hà Nội phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ để xứng đáng với truyền thống 120 năm, mà còn để trở thành lực lượng tiên phong đưa giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Vấn đề quyết định hiện nay là hành động. Hành động phải quyết liệt, có trọng tâm, có sản phẩm, có trách nhiệm giải trình và có khát vọng lớn.

Với truyền thống vẻ vang, đội ngũ trí thức mạnh, vị thế quốc gia và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, tôi tin rằng Đại học Quốc gia Hà Nội có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.

Để triển khai hiệu quả các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, tôi đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể.

Một là, xây dựng chương trình hành động 5 năm cho Đại học Quốc gia Hà Nội sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Trong đó, xác định rõ các mục tiêu đến năm 2030: nhóm ngành nào vào top châu Á, nhóm ngành nào phấn đấu top 100 thế giới, trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, sản phẩm công nghệ nào phải hình thành, chính sách nào phải được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ nào phải được ươm tạo.

Hai là, thành lập các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia đặt tại Đại học Quốc gia Hà Nội, gắn với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Mỗi chương trình cần có cơ chế tài chính nhiều năm, hội đồng khoa học quốc tế, mục tiêu sản phẩm rõ ràng và sự tham gia của doanh nghiệp.

Ba là, ban hành cơ chế đặc thù cho Đại học Quốc gia Hà Nội về tài chính, nhân lực, hoạt động khoa học công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhà khoa học phải được hưởng lợi xứng đáng từ kết quả nghiên cứu. Phòng thí nghiệm phải có quyền hình thành doanh nghiệp spin-off. Sinh viên và nghiên cứu sinh phải được tham gia các dự án thật, sản phẩm thật, bài toán thật. Đại học Quốc gia cũng phải có Quy chế đào tạo đặc thù, với những chương trình thí điểm, mô hình thí điểm, có những điểm khác biệt với Quy chế của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Bốn là, thiết lập hệ thống đánh giá đại học theo tác động. Cần đánh giá không chỉ số lượng công bố, mà cả chất lượng học thuật, số trích dẫn, bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ, doanh thu từ đổi mới sáng tạo, số doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, số chính sách được tư vấn, số sinh viên có việc làm chất lượng cao và mức độ đóng góp cho địa phương, doanh nghiệp, quốc gia.

Năm là, đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản. Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể có công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Những lĩnh vực như toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học vật liệu, cơ học, khoa học máy tính, khoa học giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn phải được coi là nền móng của năng lực tự chủ tri thức quốc gia.

Sáu là, đổi mới mạnh chương trình đào tạo theo mô hình liên ngành. Các bài toán hiện đại không nằm gọn trong một ngành. AI cần toán học, khoa học máy tính, đạo đức, luật và quản trị. Bán dẫn cần vật lý, vật liệu, điện tử, thiết kế vi mạch và công nghiệp chế tạo. Phát triển bền vững cần kỹ thuật, kinh tế, xã hội học, luật và khoa học môi trường. Vì vậy, cần thiết kế lại các chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, mở, linh hoạt và gắn với thực tiễn.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

5 nhà khoa học Việt Nam vào top 10.000 nhà khoa học hàng đầu thế giới

Theo bảng xếp hạng vừa được công bố ngày 20/10/2021, có 28 nhà khoa học người Việt đang công tác tại Việt Nam lọt vào bảng xếp hạng top 100.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới trong năm 2021.

Được biết, tác giả của công bố này vẫn là nhóm Metrics của các giáo sư Jeroen Baas, Kevin Boyack và John P.A. Ioannidis của  Đại học Stanford của Hoa Kỳ nghiên cứu và công bố trên tạp chí PLoS Biology của Hoa Kỳ.

Theo đó, nhóm tác giả đã dùng cơ sở dữ liệu của Scopus từ 1960 đến tháng 8.2021 trong hơn 7 triệu nhà khoa học và lọc ra top 100.000 người có ảnh hưởng nhất.

Tiếp theo những năm trước, nghiên cứu không có sự thay đổi trong công cụ đo lường và đánh giá khi nhóm nghiên cứu cập nhật cơ sở dữ liệu của hơn 100.000 nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất (từ nguồn dữ liệu của Scopus) và xếp hạng của họ dựa vào các tiêu chí quan trọng như: chỉ số ảnh hưởng trong giới khoa học (composite score); tổng số trích dẫn (không bao gồm các tự trích dẫn); chỉ số Hirsch h-index; chỉ số Schreiber hm-index; số trích dẫn cho các bài báo được đăng với tư cách là tác giả duy nhất (single author); số trích dẫn cho các bài báo là tác giả chính (tên đầu tiên – first author và tác giả liên hệ – corresponding author), và tác giả cuối cùng – last author, …

Các nhà khoa học được phân chia vào 22 lĩnh vực khoa học và 176 lĩnh vực phụ (ngành/chuyên ngành).

Theo thứ tự trong bảng xếp hạng này, Việt Nam có 5 nhà khoa học vào top 10.000 nhà khoa học hàng đầu thế giới gồm:  GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tiếp tục đứng đầu trong các nhà khoa học Việt Nam, xếp hạng 5949 thế giới (và đứng thứ 96 thế giới trong lĩnh vực Engineering), tiếp đến là PGS.TS Lê Hoàng Sơn (ĐHQGHN) – xếp hạng 6766, GS.TS Nguyễn Xuân Hùng (ĐH Công nghệ Tp. HCM) – xếp hạng 6818, GS.TS Bùi Tiến Diệu (ĐH Duy Tân) -9488, GS.TS Võ Xuân Vinh (ĐH Kinh tế TP HCM)- xếp thứ 9528.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tiếp tục đứng đầu trong các nhà khoa học Việt Nam.

GS Nguyễn Đình Đức, GS Nguyễn Xuân Hùng và PGS Lê Hoàng Sơn là 3 người lọt vào top 10.000 nhà khoa học xuất sắc nhất của thế giới trong 3 năm liên tiếp 2019, 2020,2021.

Tiếp đến trong danh sách này là các nhà khoa học Việt Nam là: Trần Hải Nguyên (ĐH Duy Tân) xếp thứ 14704, Trần Xuân Bách (ĐH Y Hà Nội) -19881, Phạm Thái Bình (ĐH Công nghệ Giao thông vận tải) – 21588, Hoàng Đức Nhật (ĐH Duy Tân-23301;  Đặng Văn Hiếu (ĐH Thăng Long) – 31139;  Hoàng Anh Tuấn (ĐH Công nghệ -TP Hồ Chí Minh) – 32938;

Phạm Văn Hùng (ĐH Quốc tế, ĐHQG Hồ Chí Minh) – 37520; Nguyễn Thời Trung (ĐH Tôn Đức Thắng) -46053; Trần Trung (ĐH Hòa Bình) – 48769; Thái Hoàng Chiến (ĐH Tôn Đức Thắng) -50676; Vũ Quang Bách (ĐH Tôn Đức Thắng) – 54001; Nguyễn Trung Kiên (ĐH Sư phạm Kỹ thuật HCM)- 53486; Nguyễn Minh Thọ (ĐH Tôn Đức Thắng) – 56922, Phạm Việt Thành (ĐH Tôn Đức Thắng) – 57491; Nguyễn Trường Khang (ĐH Tôn Đức Thắng) – 62835;

Nguyễn Trung Thắng (ĐH Tôn Đức Thắng) – 66150, Lê Thái Hà (ĐH Fulbrigh Việt Nam)- 74063, Nguyễn Đăng Nam (ĐH Duy Tân) – 81653,Văn Hiếu (ĐH Phenikaa) -82171, Phùng Văn Phúc (ĐH Công nghệ TP HCM) – 83196; Dương Viết Thông (ĐH Tôn Đức Thắng) – 88842; Nguyễn Hoàng Long (ĐH Mỏ Địa chất Hà Nội) – xếp hạng 94128.

Trong số các nhà khoa học Việt Nam có tên tuổi đang làm việc ở nước ngoài có trong bảng xếp hạng năm nay, có thể kể đến như GS Đàm Thanh Sơn (Hoa Kỳ) – xếp hạng 7302, PGS Bùi Quốc Tính (Tokyo Institute of Technology, Nhật Bản) – 9640, GS Ngô Đức Tuấn (University of Melbourne, Úc) -xếp hạng 10652, GS  Nguyễn Văn Tuấn (Úc) – 21.835, và GS Duc Truong  Pham (University of Birmingham, UK) -39062 thế giới.

Đặc biệt, năm nay có thêm nhiều nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước lọt vào bảng xếp hạng danh giá nhất – 100.000 nhà khoa học được xếp hạng ảnh hưởng thế giới theo thành tựu trọn đời, 05 nhà khoa học Việt Nam đứng đầu trong danh sách là GS Nguyen Minh Tho (ĐH Tôn Đức Thắng), GS. Tran Hien Trinh (Oxford University), GS Nguyễn Xuân Hùng (ĐH Công nghệ Tp. HCM), GS Nguyễn Đình Đức (ĐHQGHN) và cố GS Hoàng Tụy (Viện Toán học).

Những kết quả đáng tự hào này một lần nữa tiếp tục khẳng định sự lớn mạnh và vị thế của các nhà khoa học Việt Nam được ghi nhận trong cộng đồng khoa học quốc tế. Và cũng là thành quả của sự đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học của Việt Nam.

                                                                                                                    Nguồn: Báo Dân Trí

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐH Quốc gia Hà N

Đề án 89: Đầu tư đào tạo “máy cái” cho nền giáo dục phải thỏa đáng!

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐH Quốc gia Hà Nội nhận định: Đề án 89, có mục tiêu rất đúng và trúng là đào tạo giảng viên đại học, có thể hiểu đây là đào tạo những “máy cái” nguồn nhân lực của giáo dục”.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, hình thức đào tạo của Đề án 89 rất linh hoạt. Những hình thức này sẽ không chỉ đào tạo nghiên cứu sinh (NCS), mà còn góp phần nâng cao trình độ và năng lực hợp tác và hội nhập của đội ngũ giảng viên trong nước, thông qua NCS là cầu nối hợp tác với các GS nước ngoài; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc nâng cao chất lượng và đổi mới quy trình tổ chức và quản lý đào tạo NCS của các trường đại học trong nước.

Các đối tác nước ngoài được lựa chọn là những ngành có uy tín, trong top 500 trong các bảng xếp hạng của thế giới; hình thức tuyển chọn với các tiêu chí cụ thể, rõ ràng, thu hút và khích lệ được các giảng viên trẻ làm luận án tiến sĩ (TS).

“Đề án 89 đã quay trở về như hồi chúng tôi làm nghiên cứu sinh 40 năm về trước: học toàn thời gian chính quy và còn được hưởng sinh hoạt phí trong quá trình đào tạo. Tôi cho rằng đào tạo TS là phải như vậy và có như vậy, chúng ta mới kỳ vọng có nhiều luận án TS chất lượng tốt” – GS Đức nhấn mạnh.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐH Quốc gia Hà N

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐH Quốc gia Hà Nội

 

Phóng viên: Có nghĩa là Đề án 89 quay lại thời làm quy trình 40 năm về trước, cụ thể thế nào thưa GS? Bài học kinh nghiệm ở đây là gì?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Không hoàn toàn hẳn như vậy. Ý tôi muốn nhắc đến điểm quay trở về như 40 năm về trước là ở chỗ khi đó, làm NCS không phải đóng học phí, mà còn được hưởng sinh hoạt phí và học chính quy toàn thời gian tại cơ sở đào tạo.

Ngày đó để làm NCS lấy bằng TS khó lắm, chỉ tiêu đã ít, lại còn phải thi cử đầu vào rất khó khăn. Cạnh tranh lắm. Thi đỗ được vào NCS là tự hào, vinh dự và hầu như ai lấy được bằng TS cũng có chất lượng rất tốt, được kiểm chứng bằng năng lực công tác, làm việc, tầm nhìn vượt trội lên hẳn sau khi hoàn thành luận án TS.

Bài học kinh nghiệm từ quá khứ của mấy chục năm về trước, mặc dù đất nước ta điều kiện kinh tế khi đó còn rất khó khăn. Để đào tạo TS có chất lượng thì đầu vào cũng phải tuyển chọn cẩn thận không dễ dãi, quá trình đào tạo phải gắn với nghiên cứu, đầu tư cho NCS phải thỏa đáng như “nuôi” một nhân lực KHCN và NCS toàn tâm toàn ý toàn thời gian cho luận án, và đầu ra cũng phải giám sát chặt chẽ.

Trước đây yêu cầu với luận án tiến sĩ là phải giải quyết được vấn đề mới của khoa học, có đóng góp cho khoa học và thực tiễn thì ngày nay, nhiều người hiểu là chỉ yêu cầu luận án TS phải có công bố quốc tế.

Điều này làm cho luận án của NCS hội nhập với quốc tế, nhưng tôi cho rằng hiểu như vậy còn đơn giản và chỉ có công bố quốc tế thôi cũng chưa đủ.

Định nghĩa về Luận án TS theo Quy chế đào tạo TS ban hành theo QĐ số 4555/QĐ-ĐHQGHN, ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội mà tôi là người chủ trì xây dựng thì: “Luận án TS là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn –  có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề  thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ”.

Vì vậy, cá nhân tôi cho rằng, trong thời gian tới, đầu ra của các luận án TS nói chung, trong đó có các NCS theo Đề án 89, cũng phải quy định ở tầm như vậy mới xứng đáng.

Thu hồi kinh phí bồi hoàn: Khó khả thi!

Phóng viên: Theo hướng dẫn mới nhất của Bộ GD-ĐT, các cơ sở giáo dục được tuyển chọn và cử giảng viên đi đào tạo có trách nhiệm thu hồi học bổng và chi phí đào tạo đã cấp khi người được cử đi đào tạo vi phạm quy định. Việc giao cho các trường quyền hạn và trách nhiệm như vậy, liệu có khả thi không thưa GS?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Trước khi trả lời vào câu hỏi này tôi muốn đề cập đến mức kinh phí hỗ trợ cho NCS.

Người làm luận án tiến sĩ chính là nhân lực KHCN của nhà trường, phải xem những NCS là những nhà nghiên cứu, chứ không chỉ là người học.

Vì vậy ở nhiều nước phát triển, học bổng hoặc sinh hoạt phí cấp cho NCS không chỉ đủ sống mà còn khá rộng rãi, để đảm bảo cho NCS sống tốt, yên tâm làm luận án (ngoài ra còn có những hỗ trợ khác về CSVC, thiết bị thực hành, thí nghiệm; kinh phí đi hội thảo trong, ngoài nước) và thậm chí học bổng của NCS đủ trang trải nuôi được gia đình.

Vì vậy, tôi mong muốn đi đôi với Đề án 89, thì các định mức hỗ trợ NCS và hoạt động đào tạo TS phải tới tầm và thỏa đáng.

Về điều khoản khoán, giao cho các trường chịu trách nhiệm thu hồi kinh phí bồi hoàn theo tôi là khó khả thi. Chỉ tương đối khả thi với các đối tượng đang là giảng viên cơ hữu của nhà trường.

Mặt khác cũng phải hình dung là không thể tránh khỏi khi theo Đề án 89 làm giảng viên, nhưng khi có bằng TS, do nhiều nguyên nhân khách quan, lại chuyển sang các bộ ngành khác trong nước không làm giảng viên nữa, trong trường hợp này cũng nên cân nhắc việc có thu hồi học phí không? Nếu có thì thu như thế nào cho phù hợp?

Còn trường hợp khi người học theo Đề án đã có bằng TS mà sau đó lại xin được việc ở làm ở nước ngoài, việc giao cho các trường thu hồi kinh phí, theo tôi là rất khó khăn và khó khả thi.

Phóng viên: Liệu đề án 89 có nguy cơ rơi vào “vết xe” của đề án 322 và 911? Cách khắc phục như thế nào? GS kỳ vọng đề án này đạt hiệu quả như thế nào trong thời gian tới? thúc đẩy gì cho giáo dục đại học Việt Nam?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức:  Đề án 911 trước đây chủ trương gửi công dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài. Đề án 322 đào tạo nguồn giảng viên cho các trường đại học được làm luận án ThS và TS ở nước ngoài, đáp ứng cho nhu cầu đào tạo nguồn 20.000 TS làm giảng viên cho các trường đại học.

Khác với tất cả các đề án trước, đề án này cho phép được hỗ trợ NCS hoặc đào tạo toàn thời gian ở nước ngoài, hoặc liên kết với nước ngoài theo mô hình có thời gian trong nước, thời gian ở nước ngoài; hoặc cũng có thể đào tạo toàn thời gian trong nước và đối tượng là các giảng viên hoặc tạo nguồn giảng viên đại học.

Đây là một đề án rất tích cực và phù hợp với thực tiễn và đáp ứng rất cao nhu cầu của các trường đại học ở Việt Nam, vì hiện nay, mặc dù trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực và thành tựu, nhưng đến nay tỷ lệ trung bình TS trong đội ngũ giảng viên các trường đại học Việt Nam mới đạt khoảng gần 28%.

Ngay từ năm 2013, với tư cách là Trưởng Ban Đào tạo của ĐHQGHN, tôi đã chủ trì xây dựng Đề án đào tạo tiến sĩ đạt chuẩn quốc tế ở ĐHQGHN, mục tiêu lựa chọn một số ngành xuất sắc như toán học, vật lý, hóa học, cơ học, CNSH,… đào tạo các NCS từ các nguồn khác nhau trong cả nước về ĐHQGHN làm luận án TS với 3 hình thức như trên, với chuẩn đầu ra có công bố quốc tế như NCS được đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài, nhưng rất tiếc Đề án này không có nguồn kinh phí hỗ trợ để triển khai thực hiện. Đề án 89 này đã giúp cho nguyện ước bấy lâu nay của chúng tôi, nay có thể trở thành hiện thực.

Rút kinh nghiệm từ những Đề án trước, theo tôi, để thành công thì không chỉ có Bộ giáo dục và Đào tạo và các cơ sở giáo dục đại học vào cuộc, thầy và trò – NCS vào cuộc, mà phải là sự vào cuộc của cả Chính phủ và các bộ ngành liên quan: thấu hiểu tầm quan trọng của Đề án, có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ và tạo điều kiện, ủng hộ của các bộ ngành khác, để đào tạo NCS – nhất là đào tạo máy cái như trong Đề án 89 – các giảng viên đại học, thì không thể đầu tư cầm chừng, nhỏ giọt.

Đào tạo NCS muốn thành công thì phải đầu tư đến nơi đến chốn, thỏa đáng hơn nữa cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo của người thầy, phải đi đôi với việc đầu tư xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học, bồi dưỡng và đào tạo các cán bộ khoa học đầu ngành, đầu đàn.

Theo tôi, giáo dục đại học có ý nghĩa then chốt trong việc Việt Nam có nắm bắt được những cơ hội để phát triển đột phá trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0 hay không. Vì giáo dục đại học gắn với đào tạo chất lượng cao, trình độ cao, đào tạo nguồn nhân lực tiếp cận với đỉnh cao của tri thức.

Với kỳ vọng như vậy, tôi đánh giá Đề án 89 là một bước tiến lớn, sự đổi mới tuyệt vời trong đào tạo TS và nhất định sẽ có đóng góp xứng đáng và hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam trong thời gian tới.

Phóng viên: Xin trân trọng cám ơn GS!

Nhật Hồng

HỢP TÁC QUỐC TẾ SÂU RỘNG VÀ CƠ HỘI VIỆC LÀM CHO KỸ SƯ CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT XÂY DỰNG CỦA TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ – ĐHQGHN

Đào tạo ngành kỹ sư Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng ở ĐH Công nghệ có ưu thế là nền tảng kiến thức được trang bị rất sâu và kỹ về toán, cơ học, CNTT, đặc biệt là các kiến thức chuyên ngành nền tảng và những công nghệ, kỹ thuật mới nhất của ngành xây dựng (Civil Engineering).

Đặc biêt, trường ĐH của Nhật Bản cam kết hỗ trợ đỡ đầu cho ngành này. ĐH Nhật Bản cử GS sang giảng dạy, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; nhận giảng viên của khoa Xây dựng Giao thông sang Nhật thực tập, nâng cao trình độ; giúp cho Bộ môn và khoa tài liệu, giáo trình, thiết bị thí nghiệm; kết nối với các doanh nghiệp Nhật bản trong lĩnh vực này. Thật là sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng, quá tuyệt vời.

Học tập của sinh viên được gắn với nghiên cứu, với thực hành trong PTN và thực tập tại các doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ giảng dạy đào tạo bài bản, tài năng, nhiệt huyết năng động và rất trẻ trung. Được ủng hộ mạnh mẽ của các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu lớn nhất ở trong và ngoài nước. Rất nhiều học bổng cho sinh viên và cơ hội sau khi ra trường có việc làm tại môi trường quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc,…

Chính vì vậy, ngành kỹ sư Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng của trường ĐH Công nghệ – ĐHQGHN thu hút được sự quan tâm của các bộ ngành, doanh nghiệp, các đối tác trong và ngoài nước, các bậc phụ huynh và toàn xã hội, và ngày càng có nhiều em thí sinh giỏi và ưu tú đăng ký vào học,

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Quân Trần Quốc, mọi người đang đứng, hoa và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Quân Trần Quốc, mọi người đang đứng và trong nhà

Trong ảnh: 2 giảng viên trẻ TS Trần Quốc Quân và TS Dương Tuấn Mạnh được sang thực tập và nâng cao trình độ chuyên môn tại Nhật Bản trong dịp hè 2019.

Nhóm nghiên cứu là phương hướng và mục tiêu phát triển tất yếu của các đại học tiên tiến

Với định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến, đa ngành, đa lĩnh vực, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn chú trọng việc gắn kết chặt chẽ hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học, trong đó đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Lần đầu tiên tại Việt Nam và trong khuôn khổ các trường đại học, Hội thảo quốc gia về Xây dựng và Phát triển các Nhóm nghiên cứu (NNC) trong các trường đại học Việt Nam đã được tổ chức dưới sự chủ trì của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.

Thứ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Phúc đã đến dự và chỉ đạo Hội thảo.

Hội thảo và kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”.

Các đại biểu tại Hội thảo quốc gia về Xây dựng và Phát triển các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học Việt Nam

Trưởng Ban Đào tạo ĐHQGHN GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Chủ nhiệm nhiệm vụ, đồng thời là Trưởng Ban Tổ chức của Hội thảo cho biết, mục tiêu của hội thảo là làm rõ những tiêu chí, mô hình của NNC; vai trò của NNC trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và tiềm lực KHCN của đơn vị; nghiên cứu các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của NNC; đánh giá thực trạng các NNC trong các trường đại học Việt Nam hiện nay, xác định nguyên nhân của các tồn tại hạn chế, đồng thời từ kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tiễn đề xuất ra các mô hình, cơ chế hoạt động mới, các chính sách để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cho các NNC phát triển nhanh và mạnh hơn, nhằm tạo ra những đột phá về chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu là tế bào sống của hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học

Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nhóm nghiên cứu chính là mô hình để thông qua đó gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo. Chức năng quan trọng nhất của trường đại học là truyền thụ kiến thức (giảng dạy) và sáng tạo tri thức (nghiên cứu). Trong Đại học nghiên cứu, NCKH luôn gắn kết chặt chẽ với đào tạo. Trên thế giới, danh tiếng của các trường đại học lớn thường được gắn với tầm vóc các công trình khoa học và tên tuổi các nhà khoa học phát minh ra chúng. Mặc dù vậy, nhà khoa học luôn cần có các cộng sự để tạo lập nên nhóm nghiên cứu cùng phát triển được ý tưởng khoa học, xây dựng các trường phái học thuật hoặc giải quyết các vấn đề khoa học liên ngành. Bản thân các nhóm nghiên cứu lại trở thành môi trường khoa học thuận lợi nhất để các nhà khoa học tập hợp lực lượng, trao đổi học thuật và cùng giúp nhau tiếp cận và giải quyết các vấn đề mới của khoa học. Không dừng lại ở đó, mô hình nhóm nghiên cứu ngày càng được công nhận là một phương thức và mục tiêu phát triển của các trường đại học tiên tiến 시알리스 가격. Bởi lẽ, các nhóm nghiên cứu không chỉ có vai trò thu hút các nhà khoa học tài năng, giàu chuyên môn mà còn góp phần phát triển đội ngũ nhân lực, nhất là qua hoạt động đào tạo nghiên cứu sinh. Xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh thì mới triển khai được các hoạt động nghiên cứu mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học đỉnh cao. Sự phát triển của các nhóm nghiên cứu sẽ giúp tăng các công bố quốc tế, từ đó sẽ nâng được thứ bậc và xếp hạng của các trường đại học.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức trình bày tham luận tại Hội thảo

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam: đã có chính sách nhưng chưa tương xứng

Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, trên cơ sở khảo sát từ 142/271 trường đại học, hiện nay trong hệ thống các trường đại học đã hình thành gần 950 cơ sở nghiên cứu, trung bình một trường đại học có 7 NNC. Đây là một kết quả đáng mừng, cho thấy việc tạo lập các nhóm nghiên cứu tại Việt Nam đang được đẩy mạnh, nhờ đó, đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, gia tăng công bố quốc tế rất mạnh trong 5 năm gần đây…

Mặc dù vậy, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cùng các cộng sự đã tiến hành khảo sát để thấy được những tồn tại, hạn chế của các nhóm nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay như là số lượng các công bố quốc tế của các NNC còn khá khiêm tốn. Trong đó, có 37,5% số giảng viên của 40 trường đại học được hỏi chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus, và 34,7% chưa có công bố quốc tế nào khác. Số các giảng viên có công bố quốc tế ISI/Scopus trên 5 bài chỉ có 34,2% và hơn 60% chưa có sách chuyên khảo nào. Thêm vào đó, chỉ có 75% các nhóm nghiên cứu được khảo sát được dẫn dắt bởi các GS hoặc PGS. Đặc biệt, hạn chế lớn nhất của các NCC tại Việt Nam hiện nay là về nguồn lực khi kinh phí cho các đề tài rất khiêm tốn và thường bị cấp chậm, mặt khác, cơ sở vật chất, thiết bị đầu tư cho nghiên cứu không có, hoặc rất thiếu, hoặc không đồng bộ.

Nhóm nghiên cứu hoạt động tại phòng thí nghiệm

Từ kết quả trên, GS Đức đề xuất “Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm xây dựng chính sách hỗ trợ cho việc xây dựng và phát triển các NNC trong các trường đại học. Thực tế cho thấy các NNC thuộc các lĩnh vực khác nhau cần có những chính sách khác nhau. Bên cạnh đó, có thể áp dụng cơ chế khoán theo sản phẩm đầu ra cho từng NNC để thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của NNC”

Ông Phạm Hùng Hiệp (Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Giáo dục, Trường ĐH Phú Xuân) chia sẻ, đầu tư cho các nhóm nghiên cứu tức là đầu tư cho các trưởng nhóm, đó là các nhà khoa học có trình độ, thể hiện qua sản lượng và chất lượng công bố quốc tế của họ, chính vì vậy cần thực hiện chính sách xoay quanh các nhà khoa học trình độ cao. Thực tiễn cho thấy vai trò của các nhóm nghiên cứu rất quan trọng nhưng chưa có nhiều chương trình nghiên cứu đưa ra được những tổng kết, lý luận, kinh nghiệm quốc tế cũng như kết quả của các nhóm nghiên cứu trong cả nước. Hội thảo lần này là lần đầu tiên trong cả nước, với quy mô quốc gia liên quan đến chủ đề này. Ông hy vọng trong thời gian tới, những hội thảo có ý nghĩa như vậy sẽ tiếp tục được tổ chức.

Ông Phạm Hùng Hiệp (Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Giáo dục, Trường ĐH Phú Xuân)

ĐHQGHN tiên phong xây dựng giải pháp cụ thể, đầu tư thiết thực cho các nhóm nghiên cứu

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về thực trạng và giải pháp phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐHQGHN.

Các đại biểu trình bày báo cáo tham luận tại Hội thảo

Với định hướng và tầm nhìn dài hạn hướng đến việc trở thành một đại học nghiên cứu, nên sứ mệnh NCKH được ĐHQGHN đặc biệt chú trọng. Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của NNC với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, ĐHQGHN đã tập trung xây dựng và phát triển các NNCM, các trung tâm xuất sắc (Center of Excellence – CEO) và các mạng lưới liên hoàn, điều này được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Trong nhiều năm qua ĐHQGHN đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường năng lực KH&CN cho các đơn vị thành viên, trong đó ưu tiên đầu tư nguồn lực để phát triển các NNCM như Chính sách kiện toàn hệ thống mạng lưới phòng thí nghiệm; Chính sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và đào tạo; Chính sách đổi mới quản lý nhiệm vụ KH&CN.v.v. như tính đến tháng 10 năm 2018, ĐHQGHN có tổng cộng 28 nhóm nghiên cứu mạnh. Bên cạnh đó, ĐHQGHN còn có trên 100 nhóm nghiên cứu khác nhau được chia theo 4 loại hình nghiên cứu gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu liên ngành.

Khoa học ứng dụng và khoa học liên ngành phát triển, đòi hỏi các nhóm nghiên cứu phải phát triển theo nhóm đa ngành và liên ngành, thay vì đơn ngành như trước đây. Nhận thức được xu thế đó, ĐHQGHN đã quy hoạch, sắp xếp các nhóm nghiên cứu gắn với các mục đích khác nhau như nhóm nghiên cứu chỉ phục vụ công tác đào tạo, thực hành, thực nghiệm của sinh viên; nhóm nghiên cứu để phát triển các công bố quốc tế; nhóm nghiên cứu để triển khai nhiệm vụ ứng dụng hoặc nhóm nghiên cứu mạnh để tạo ra những sản phẩm tiêu biểu đặc sắc. Sự phân cấp trong quản lý, tổ chức và đầu tư các nhóm nghiên cứu của ĐHQGHN đã giúp mô hình này ngày càng phát triển và đạt được các chỉ tiêu đặt ra, góp phần quan trọng thúc đẩy xếp hạng ĐHQGHN trong nước và trên trường quốc tế.

Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Vũ Văn Tích, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ, ĐHQGHN cho biết “trong thời gian đầu, ĐHQGHN hướng tới tổ chức các nhóm nghiên cứu để tạo ra một đại học định hướng nghiên cứu, góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, nhưng bên cạnh đó, ĐHQGHN cũng đang chuyển theo hướng đổi mới, sáng tạo và đưa ra các sản phẩm khoa học để kết nối với các doanh nghiệp, để từ đó các doanh nghiệp có thể bỏ kinh phí, nguồn lực, phương pháp và công nghệ để sát cánh cùng các nhà khoa học trong việc tạo ra các sản phẩm mang tính ứng dụng cao. Chính vì vậy, trong thời gian tới, ĐHQGHN sẽ tiến hành đầu tư, phát triển các phòng thí nghiệm mang tính nghiên cứu triển khai và thương mại hóa nhiều hơn để tích hợp với các doanh nghiệp nhằm đưa các nhóm nghiên cứu gắn với doanh nghiệp để cùng giải quyết vấn đề của từng địa phương”

Phát biểu kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc khẳng định việc nâng cao chất lượng, kết quả của hoạt động NCKH và xây dựng các NNC trong các trường đại học là hai hoạt động quan trọng. Trong những năm qua, mô hình NNC được triển khai ở ĐHQGHN và một số trường đại học khác ban đầu đã có những kết quả và thành tích tốt trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Điều đó cho thấy khi một đơn vị có cơ chế khoa học công nghệ tốt có khả năng khuyến khích, tạo động lực giải phóng sức sáng tạo khoa học và sức làm việc của các thầy/cô, nhà khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học. Trong thời gian tới, để thúc đẩy sự phát triển của NCKH, Bộ GD&ĐT và Bộ KHCN sẽ tham mưu Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách để hình thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu mạnh thực sự và sống được bằng khoa học.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc phát biểu kết luận tại Hội thảo

HỘI THẢO ” CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI CÁC NGÀNH KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ”

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và kéo theo những đổi thay kỳ diệu, chưa từng có trong lịch sử, và đặc biệt tác động mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kỹ thuật -công nghệ.

Đã có nhiều hội thảo về CMCN 4.0, nhưng hội thảo này sẽ tập trung đến các ngành kỹ thuật – công nghệ.

Hội thảo chia sẻ thông tin và giới thiệu về các hướng nghiên cứu hiện đại nhất của thế giới và những đổi mới trong đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực này, như CNTT, Tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công trình xanh, thành phố thông minh, …. từ CNTT đến Kỹ thuật hạ tầng, từ đó gợi mở để đổi mới chương trình đào tạo, tập hợp lực lượng xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong các trường đại học, viện nghiên cứu để tiếp cận và hội nhập với thế giới.

Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu từ các cơ quan khoa học lớn của Việt Nam như ĐHQGHN, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, ĐH Bách Khoa HN, Học Viện KTQS, ĐH Xây dựng, ĐH Giao thông, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN Giao thông, CONINCO,…và các doanh nghiệp Việt Nam, Nhật Bản, các nhà quản lý khoa học và giáo dục – đào tạo.

Hội thảo do ĐH Việt Nhật, phối hợp với ĐH Nguyễn Tất Thành và Hội Cơ học Việt Nam tổ chức.

BTC Trân trọng thông báo và kính mời các chuyên gia, nhà khoa học, các thầy cô, các bạn NCS, học viên cao học và sinh viên, và những ai quan tâm tham dự.

Thời gian: 8:30 đến 12:00, ngày 27/10/2018 (Thứ bảy)
Địa điểm: Phòng 415, Trường Đại học Việt Nhật, Đường Lưu Hữu Phước, Khu đô thị Mỹ Đình 1, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội

Liên hệ:

Trưởng Ban Tổ chức: GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Thư ký Hội nghị:
-1)TS. Phan Lê Bình (Mr.) – Chuyên gia JICA/Giảng viên, Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN – Email: pl.binh@vju.ac.vn – Điện thoại: 0936148669
-2) TS. Đặng Thanh Tú (Ms.) – Phó Trưởng Phòng Đào tạo, Xúc tiến nghiên cứu và phát triển, Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN – Email: dt.tu@vju.ac.vn – Điện thoại: 0903251759

Thư ký hành chính:
Bùi Hoàng Tân (Mr.) – Trợ lý Chương trình Thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng, Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN – Email: bh.tan@vju.ac.vn – Điện thoại: 0936460707.

GS Nguyễn Đình Đức: 3 thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam

THÀNH TỰU NỔI BẬT CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM QUA 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/TW-2013 VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp chấn hưng đất nước.  Giáo dục đại học (bao gồm cả đào tạo đại học, sau đại học) là cấu thành vô cùng quan trọng của hệ thống giáo dục, bởi nói đến giáo dục đại học là nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – chính là giá trị cốt lõi – là chìa khóa để đất nước chúng ta có thể nắm bắt được những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và những vận hội mới, đưa đất nước ta vượt qua thách thức, tiến lên phía trước, sánh vai với các nước năm châu.

Đúng 5 năm trước đây, trong Nghị Quyết 29/TW ngày 04-11-2013 của BCH Trung ương (sau đây gọi tắt là NQ29) đã nhận định “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp’’ và đã chỉ ra giáo dục đại học “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.

Sau 5 năm triển khai thực hiện NQ29, đã có nhiều hội nghị, hội thảo tổng kết và đánh giá toàn diện và đầy đủ ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại , tôi thấy về tổng thể, giáo dục đại học có một số thành tựu lớn, nổi bật như sau:

        Một là, giáo dục đại học Việt Nam đã hội nhập và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế

         Có thể thấy chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới nhanh và mạnh mẽ, tiếp cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm qua. Minh chứng cho nhận định này có thể thấy qua việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học, xếp hạng đại học.

Các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta không thể hội nhập với thế giới nếu không được kiểm định chất lượng. Người tốt nghiệp có tấm bằng của cơ sở giáo dục hoặc của chương trình đào tạo đã được kiểm định có cơ hội công ăn việc làm và hội nhập tốt hơn. Đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Tính đến tháng 5/2016, có 229/266 (chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục đại học do Bộ GDĐT quản lý đã thành lập được đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, một số trường còn lại giao một số cán bộ phụ trách hoạt động đảm bảo chất lượng. Cả nước hiện nay có 05 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và được cấp phép hoạt động. Đã tổ chức 5 đợt tuyển chọn và cấp thẻ kiểm định viên, có 346 người đã được cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

Tính đến ngày 31/8/2018, có 218 cơ sở giáo dục đại học và 33 trường cao đẳng sư phạm hoàn thành tự đánh giá; 124 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm được đánh giá ngoài, trong đó 117 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 10 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 06 trường đại học được đánh giá ngoài và được công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục của Hội đồng Cấp cao về Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp (HCERES) và Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA); 107 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận.

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực  và thế giới. Trong những năm gần dây, hoạt động kiểm định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là các cấp quản lý giáo dục, các nhà trường được tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học. Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới.

Bên cạnh hoạt động kiểm định, xếp hạng đại học là hoạt động cũng được Bộ giáo dục Đào tạo và các trường đại học Việt Nam đặc biệt coi trọng trong những năm qua. Nếu kiểm định phản ánh chất lượng thì xếp hạng đại học nói lên đẳng cấp.

Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago, thứ hạng cũng dần được cải thiện. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars. Có thể thấy những thành tựu về kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học là minh chứng cho sự thành công, sự chuyển mình, cho sự đổi mới toàn diện và hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam với quốc tế trong thời gian qua.

          Hai là, tạo được sự đột phá, chuyển biến về chất lượng. Công bố quốc tế, chất lượng đội ngũ giảng viên và chất lượng người học ở bậc đại học và sau đại học đã có những bước nhảy vọt, đột phá so với giai đoạn trước

Trong thời gian 5 năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo. Chất lượng đầu ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước đây. Đặc biệt về ngoại ngữ đến nay đã có những bước tiến quan trọng: chuẩn đầu ra về ngoại ngữ bậc đại học là B1; chuẩn đầu vào với thạc sĩ là B1 và B2 với NCS. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải trang bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học. Đây là những chỉ đạo và định hướng đổi mới giáo dục đại học hết sức quan trọng, đúng đắn và kịp thời.

Mặt khác, trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có NQ29, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học. Các trường đại học đã chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu (NNC) để tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Ngoài hai Đai học Quốc gia, nhiều trường đại học đã xác định mục tiêu phát triển thành các đại học nghiên cứu tiên tiến. Theo báo cáo khảo sát của Bộ giáo dục Đại học, tính đến hết năm 2017 trong các trường đại học có 945 NNC, một trường đại học có trung bình 7 NNC trong đó cơ sở đào tạo có nhiều nhóm nghiên cứu nhất là Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, ĐHQG Hà Nội, ĐH Tây Nguyên,..

Thành tích lớn nhất của 5 năm qua là chúng ta đã tạo được sự chuyển biến đột phá về chất lượng. Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế. Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn chức danh, bắt buộc yêu cầu GS,  PGS và cả các  NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế.

Nếu như năm 2006, mới có anh Trần Hữu Nam, NCS ngành toán của ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN lần đầu tiên làm NCS trong nước đã công bố được 1 bài ISI trong quá trình làm luận án(và đã được đặc cách bảo vệ sớm luận án TS, thì nay 80% các NCS trong lĩnh vực KHTN- CN của ĐHQGHN, cũng như nhiều NCS của ĐH Bách Khoa Hài Nội, ĐH Y Hà Nội, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân  và nhiều trường đại học khác khi bảo vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI,….Cá biệt có những trường hợp đặc biệt xuất sắc như NCS Trần Quốc Quân, NCS Phạm Hồng Công – ngành Cơ học Kỹ thuật của Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN, từ khi là sinh viên đến khi bảo vệ luận án TS chỉ có 3 năm (được chuyển tiếp NCS) và mỗi em đã có khoảng 20 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín, còn hơn nhiều NCS được đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài).

Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 3 năm gần đây. Năm 2013, trước khi có NQ 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu trong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đoạn 5 năm trước 2011-2015, khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài.

Nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế đã trở thành tiêu chí bắt buộc của giảng viên đại học. Công văn việc làm, kiến thức chuyên môn song hành với ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho người học là kim chỉ nam cho hoạt động đào tạo trong các trường đại học hiện nay. Cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang có sự chuyển biến và đột phá về chất hết sức quan trọng, theo các yêu cầu và chuẩn trình độ quốc tế.

 Ba là, chăm lo đào tạo và bồi dưỡng nhân tài; có sự chuyển dịch mạnh mẽ và kịp thời cơ cấu ngành nghề, nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0.

              Một thành tựu nữa không thể không nhắc đến là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, Bộ giáo dục và Đào tạo còn chỉ đạo các trường đại học tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Chương trình tài năng đào tạo các cử nhân, kỹ sư có năng khiếu trong lĩnh vực khoa học cơ bản (cử nhân tài năng) và kỹ thuật công nghệ (kỹ sư tài năng). Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình đào tạo bậc đại học, áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên-công nghệ, sử dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và cấp kinh phí triển khai thực hiện. Đội ngũ giảng viên tham gia chương trình là của Việt Nam và một số giảng viên nước ngoài, nhằm phát triển quốc tế hóa chương trình đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực toàn cầu. Bên cạnh đó, với chương trình 911, 322, chúng ta đã cử đi đào tạo được hàng nghìn trí thức trẻ, ưu tú ở nước ngoài.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển nhanh chưa từng có kéo theo yêu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và đang tạo ra những cơ hội cũng như thách thức với giáo dục đại học. Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề phù hợp. Theo số liệu tổng kết năm học 2016-2017 của Bộ giáo dục và Đào tạo, tổng quy mô sinh viên (SV) ĐH là 1.767.879 sinh viên, giữ khá ổn định so với những năm trước; quy mô SV cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47.800 SV. Phần lớn SV tập trung theo học các ngành thuộc Khối ngành V, III: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và Khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật. Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ ĐH là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật. Mới đây, Bộ Giáo dục Đào tạo cũng đã có công văn 5444/BGDĐT-GDĐH ngày 16/11/2017 ban hành cơ chế đặc thù về đào tạo CNTT, cho phép sinh viên các ngành khác được học thêm văn bằng 2, chính quy về CNTT. Một số ngành mới khác như an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, robotic, khoa học dữ liệu, công nghệ hàng không vũ trụ đã được mở ở ĐHQGHN; các ngành tự động hóa, CNTT, khoa học máy tính, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano,…được giảng dạy và đào tạo ở nhiều  trường đại học trong cả nước, cho thấy ngành giáo dục đại học của chúng ta đang đi đúng hướng, bắt nhịp được với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0 đang diễn ra khắp nơi cũng như trong tất cả các lĩnh vực trên thế giới.

           Tóm lại, trong 5 năm thực hiện NQ 29, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Bài viết này muốn tổng kết và nhấn mạnh đến 3 thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam đã làm được trong 5 năm qua, đó là chúng ta đã hội nhập và theo chuẩn mực của quốc tế; đã có sự đột phá về chất lượng và có sự chuyển mình mạnh mẽ về chương trình đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực. Những thành tựu đổi mới đó tác động đến toàn bộ hoạt động của ngành giáo dục, và sâu xa hơn, đến toàn thể xã hội, chi phối và làm đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục của nước nhà. Thành quả lớn lao nhất là từ chính những đổi mới đó, chúng ta đã đào tạo được đội ngũ cán bộ kế cận và nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ cao, trẻ tuổi tài năng, đủ sức gánh vác sứ mệnh lớn lao và vẻ vang của đất nước  trong giai đoạn mới.

GS.TSKH Nguyễn Đình ĐứcĐại học Quốc gia Hà Nội

Chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức

Chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức: 11/10

Đại diện BGH Trường ĐHCN, các đồng  nghiệp, học trò chân thành chúc mừng sinh nhật GS Nguyễn Đình Đức – Trưởng PTN, Chủ nhiệm Bộ môn. GS là người  đã dày công gây dựng nhóm nghiên cứu, sáng lập Phòng Thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến, sáng lập Bộ môn (Khoa) Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng – Giao thông – người đã dìu dắt bao thế hệ học trò đi đến thành công.

Xin cảm ơn Thầy.  Các thế hệ học trò xin gửi tới người Thầy đáng kính lời tri ân, tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, và kính chúc Thầy luôn dồi dào sức khỏe, luôn thật nhiều niềm vui và hạnh phúc, cống hiến thật nhiều cho khoa học và cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.  Chúng em rất tự hào về Thầy.

 IMG_3373

 

GS Nguyễn Đình Đức: Giáo dục đại học Việt Nam: bước nhảy vọt trong công bố quốc tế

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã cho biết như vậy khi tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 29 về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo trong giáo dục đại học.

Cả nước có 945 nhóm nghiên cứu:

Theo GS Nguyễn Đình Đức, 3 thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam đã làm được trong 5 năm qua khi thực hiện Nghị quyết 29 là đã hội nhập và theo chuẩn mực của quốc tế; đã có sự đột phá về chất lượng và có sự chuyển mình mạnh mẽ về chương trình đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực.

Đặc biệt, đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có Nghị quyết 29, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học.

Các trường đại học đã chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu (NNC) để tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Ngoài hai Đại học Quốc gia, nhiều trường đại học đã xác định mục tiêu phát triển thành các đại học nghiên cứu tiên tiến.

Theo báo cáo khảo sát của Bộ GD&ĐT, tính đến hết năm 2017, trong các trường đại học có 945 NNC, một trường đại học có trung bình 7 NNC trong đó cơ sở đào tạo có nhiều nhóm nghiên cứu nhất là Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, ĐHQG Hà Nội và trường ĐH Tây Nguyên,..

GS Đức cho rằng, thành tích lớn nhất của 5 năm qua là giáo dục đại học Việt Nam đã tạo được sự chuyển biến đột phá về chất lượng. Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế. Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn chức danh, bắt buộc yêu cầu GS, PGS và cả các NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế.

Theo GS Đức, nếu năm 2006, mới có giảng viên Trần Hữu Nam, NCS ngành toán của ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN lần đầu tiên làm NCS trong nước đã công bố được 1 bài ISI trong quá trình làm luận án (và đã được đặc cách bảo vệ sớm luận án TS, thì nay 80% các NCS trong lĩnh vực KHTN- CN của ĐHQGHN, cũng như nhiều NCS của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, trường ĐH Y Hà Nội, trường ĐH Tôn Đức Thắng, trường ĐH Duy Tân và nhiều trường đại học khác khi bảo vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI,….

Cá biệt có những trường hợp đặc biệt xuất sắc như NCS Trần Quốc Quân, NCS Phạm Hồng Công – ngành Cơ học Kỹ thuật của Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN, từ khi là sinh viên đến khi bảo vệ luận án TS chỉ có 3 năm (được chuyển tiếp NCS) và mỗi em đã có khoảng 20 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín, còn hơn nhiều NCS được đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài.

“Nhảy vọt” trong công bố quốc tế:

Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế của Việt Nam đã tăng mạnh trong 3 năm gần đây.

GS Nguyễn Đình Đức cho hay, năm 2013, trước khi có Nghị quyết 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài. Tuy nhiên, theo thống kê mới đây của nhóm nghiên cứu độc lập trường ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu đã đạt 10.515 bài, hơn cả giai đoạn 5 năm trước 2011-2015, khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài.

Theo GS Đức, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế đã trở thành tiêu chí bắt buộc của giảng viên đại học. Công ăn việc làm, kiến thức chuyên môn song hành với ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho người học là kim chỉ nam cho hoạt động đào tạo trong các trường đại học hiện nay. Cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang có sự chuyển biến và đột phá về chất hết sức quan trọng, theo các yêu cầu và chuẩn trình độ quốc tế.

Lần đầu tiên Việt Nam có đại học lọt tốp xếp hạng thế giới:

Tính đến ngày 31/8/2018, có 218 cơ sở giáo dục đại học và 33 trường cao đẳng sư phạm hoàn thành tự đánh giá; 124 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm được đánh giá ngoài, trong đó 117 cơ sở giáo dục đại học và 03 trường cao đẳng sư phạm đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 10 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 06 trường đại học được đánh giá ngoài và được công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục của Hội đồng Cấp cao về Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp (HCERES) và Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA); 107 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận.

Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago, thứ hạng cũng dần được cải thiện. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars.

Nhật Hồng, (Dân Trí, 10/10/2018)