Tin tức

    Triển khai hợp tác hiệu quả với trường Đại học Kanto Gakuin trong lĩnh vực Công nghệ kỹ thuật xây dựng

        Ngày 11/03, Trường ĐH Công nghệ (ĐHQGHN) đã khai mạc khóa tập huấn của các giáo sư Trường Đại học Kanto Gakuin, Nhật Bản dành cho các giảng viên trẻ ngành Xây dựng – Giao thông của nhà trường tại nhà E3.

    Tham dự hội thảo về phía trường ĐHCN có PGS. TS Nguyễn Việt Hà – Hiệu trưởng Nhà trường, PGS.TS. Chử Đức Trình – Phó Hiệu trưởng, TS. Phạm Minh Triển – Phó trưởng phòng KHCN&HTPT, PGS.TS Nguyễn Phương Thái – Trưởng Phòng Đào tạo, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Chủ nhiệm Bộ môn Công nghệ xây dựng – giao thông trực thuộc trường, PGS.TS. Phạm Mạnh Thắng – Phó Chủ nhiệm khoa CHKT&TĐH. Về phía trường ĐH Kanto Gakuin có GS. TS Hiroyoshi Kiku – Hiệu trưởng và các giáo sư Nhật khác trong đoàn.

    Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ triển khai ký kết hợp tác giữa hai bên và do các giáo sư trường ĐH Kanto Gakuin trình bày về những phương pháp và công nghệ xây dựng mới của Nhật Bản, giúp truyền đạt cho các giảng viên trẻ của Trường ĐHCN những kiến thức, kỹ thuật, công nghệ và những thông tin mới nhất trong lĩnh vực xây dựng. Khóa tập huấn sẽ kết thúc vào ngày 16/3/2019 gồm các bài giảng với nội dung kỹ thuật kết cấu, địa kỹ thuật, kỹ thuật giao thông, kỹ thuật bê tông, quản lý dự án…

    Hiệu trưởng Nguyễn Việt Hà phát biểu tại chương trình

    Hiệu trưởng Nguyễn Việt Hà (bên phải ảnh) tặng quà lưu niệm đến giáo sư trường ĐH Kanto Gakuin

    Phát biểu tại chương trình, Hiệu trưởng Nguyễn Việt Hà đã đánh giá cao sự giúp đỡ, hỗ trợ hiệu quả của trường ĐH Kanto Gakuin đối với Trường ĐHCN trong việc chuyển giao chương trình đào tạo kỹ thuật xây dựng. Đồng thời, Hiệu trưởng đã nhấn mạnh những nội dung và lĩnh vực hợp tác được triển khai trong thời gian tới. Cụ thể, hai bên sẽ hỗ trợ cập nhật, hoàn thiện chương trình đào tạo, xây dựng các đề cương chi tiết từng học phần, tham gia phối hợp nghiên cứu khoa học theo thế mạnh của hai bên. Phó giáo sư hi vọng giảng viên và sinh viên Bộ môn Công nghệ xây dựng – giao thông sẽ nắm bắt cơ hội sau bài giảng của các giáo sư Trường ĐH Kanto Gakuin để nâng cao kiến thức và phát triển chuyên môn trong tương lai.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Chủ nhiệm Bộ môn thuộc trường đã trao đổi trực tiếp về những hợp tác cụ thể của hai bên, ngoài khóa học này, năm nay Bộ môn sẽ cử 2 cán bộ tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng giảng viên trong thời gian 2-3 tháng tại ĐH Kanto Gakuin; đề xuất những hướng nghiên cứu thế mạnh và các khóa học ngắn hạn khác trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật xây dựng; xây dựng chương trình đào tạo mới bậc đại học và sau đại học để tương lai có thể hướng đến việc liên kết đào tạo quốc tế với trường ĐH Kanto Gakuin. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức tin tưởng trường ĐH Kanto Gakuin sẽ là đơn vị góp phần tích cực giúp Trường ĐHCN kết nối với các doanh nghiệp Nhật Bản để tăng khả năng thực hành và thực tập và cơ hội việc làm cho sinh viên của Nhà trường nói riêng và sinh viên ĐHQGHN nói chung.

    GS.TS. Hiroyoshi Kiku rất kỳ vọng vào hợp tác của hai trường trong thời gian tới

    Chia sẻ về những hợp tác sắp tới của hai trường, GS. TS Hiroyoshi Kiku, Hiệu trưởng cho biết, trường ĐH Kanto Gakuin rất kỳ vọng vào sự hợp tác về đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa hai đơn vị. Trường ĐH Kanto Gakuin sẽ hỗ trợ Trường ĐHCN trong lĩnh vực đào tạo giảng viên, cán bộ để góp phần đào tạo những sinh viên trở thành các kỹ sư, các nhà kỹ thuật nắm vững các kỹ năng, trở thành các kỹ sư giỏi, nhà quản lý chuyên nghiệp mang tính toàn cầu, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án xây dựng trong tương lai, góp phần vào sự phát triển xã hội và phồn vinh của đất nước Việt Nam.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (bên phải ảnh) tặng hoa đến  GS. TS Hiroyoshi Kiku – Hiệu trưởng trường ĐH Kanto Gakuin

    Trường Đại học Kanto Gakuin được thành lập năm 1884 nằm ở tỉnh Yokohama của Nhật Bản, có lịch sử xây dựng và phát triển hơn 130 năm, là một trường nổi tiếng tại Nhật Bản về lĩnh vực công nghệ bề mặt vật liệu và công nghệ xây dựng dân dụng. Đối với bậc đại học, Trường Đại học Kanto Gakuin có 10 khoa với 11.000 sinh viên; bậc sau đại học có 4 khoa.

    Tuyết Nga (UET-News)

    Read more

    TIẾP ĐÓN GS. KIM S.E. - ĐH SEJONG, HÀN QUỐC

    GS KIM S.E nguyên là Phó Giám đốc ĐH Sejong Hàn Quốc (GS mới nghỉ công tác quản lý từ cuối 2018) và hiện nay vẫn đang là Trưởng PTN trọng điểm của Hàn Quốc về Civil Engineering. PTN của GS Kim đã đào tạo nhiều TS trẻ cho Việt Nam ở khắp mọi miền Trung, Nam, Bắc. GS Kim không chỉ là chuyên gia có tên tuổi trong lĩnh vực Civil Engineering ở Hàn Quốc, ông còn nổi tiếng là GS rất nghiêm túc, khắt khe và đòi hỏi cao với NCS. Các NCS của ông phải là tác giả chính của đủ 6 bài báo SCI, SCIE ông mới cho bảo vệ luận án lấy bằng TS (áp lực rất lớn với NCS). Hiện nay, PTN của GS Kim ở Hàn Quốc còn có 6 NCS người Việt Nam đang làm việc (http://duhochanico.edu.vn/truong-dai-hoc-sejong/).

    GS Kim đã giới thiệu về phương pháp và phần mềm tính toán mới, tính cho các kết cấu dầm, cầu ở trạng thái đàn hồi - dẻo, do PTN của GS triển khai, tốc độ tính toán nhanh hơn ABAQUS và cho phép thiết kế, tiết kiệm vật liệu từ 10-20%. Thật tuyệt vời.

    Tháng 12. 2017, GS Kim đã cử 1 NCS từ Hàn Quốc sang làm việc tại Lab. của chúng tôi ở ĐH Công nghệ, ĐHQGHN. Kết quả, dưới sự hướng dẫn của tôi, theo hướng nghiên cứu và phương pháp của chúng tôi, sau 1 năm NCS đã có 3 bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín (IF từ 2.2-4.3, đều là tạp chí Q1 - có IF thuộc hàng cao nhất trong ngành Cơ học và Civil Engineering). Từ đó, chúng tôi đã có sự hợp tác tin cậy và bình đẳng giữa 2 bên. Tôi chính thức trở thành Visiting professor của ĐH Sejong từ đó (sang HQ lúc nào cũng được, cử học trò nào sang Lab bên HQ, GS Kim cũng sẽ nhận hết).

    Hàn Quốc là Quốc gia đầy ý chí và hoài bão vươn lên bằng tiềm lực KHCN. Từ một quốc gia có thu nhập đầu người rất thấp, chỉ 200 $/người từ những năm 60 (như Việt Nam lúc bấy giờ), sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã xây dựng và phát triển thành 1 quốc gia hùng cường, tận dụng được những cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 3.0, vươn lên thành con rồng, con hổ của châu Á ngay từ những năm cuối thế kỷ XX.

    Hiện nay, Hàn Quốc đang đeo đuổi quyết tậm đoạt giải Nobel (https://www.nature.com/…/top…/topLeftColumn/pdf/534020a.pdf…), đồng thời có chiến lược và kế hoạch rất cụ thể đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và phát triển các công nghệ tiên tiến nhất, thu hút nhân tài, nhằm nắm bắt bằng được cơ hội của cuộc cách mạng CN 4.0, vươn lên trở thành một quốc gia với vị thế mới về chính trị và kinh tế trong Thế kỷ XXI.

    Đặc biệt, các GS Hàn Quốc rất thích học trò người Việt Nam bởi trí thông minh, sự kiên trì, chịu khó và tính nhẫn nại, sáng tạo, bền bỉ trong công việc.

    Hy vọng sự hợp tác 2 bên giữa 2 nhóm nghiên cứu, 2 PTN sẽ ngày càng bền chặt, hiệu quả, cùng chia sẻ và cùng nắm bắt, nghiên cứu những vấn đề mới nhất, hiện đại nhất.

    Trong hình ảnh có thể có: 20 người, bao gồm Nguyen Duc Trung, Trịnh Minh Chiến, Hưng, Nguyen Dinh Duc, Hoàng Tân, Phạm Đình Nguyện và Quân Trần Quốc, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà

    Read more

    KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU (NNC) CỦA GS NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC NĂM 2018

    - Công bố 20 bài báo ISI (SCI, SCIE).

    - 1 Đề tài Nhà nước, 2 đề tài NAFOSTED đã được phê duyệt và đang triển khai nhiều hướng nghiên cứu cực mới về vật liệu tiên tiến, kết cấu thông minh, biến đổi khí hậu. Bắt đầu nghiên cứu về vật liệu composite chức năng thông minh (FGM) từ 2005 - 14 năm sau: 8/2018 - GS trưởng NNC đã trở thành thành viên chính thức của Ủy ban quốc tế về FGM gồm các nhà khoa học ưu tú của 12 quốc gia.

    - 5 NCS đã tốt nghiệp, bảo vệ thành công xuất sắc luận án TS, hiện đang đào tạo 11 NCS.

    - Sinh viên K59H chuyên ngành vật liệu và tiên tiến tốt nghiệp kỹ sư. 1 thành viên NNC bảo vệ xuất sắc luận văn thạc sỹ (với 2 công bố ISI) và nhận học bổng toàn phần của Chính phủ Nhật sang làm NCS tại Nhật Bản.

    - Tổ chức thành công 4 Hội thảo khoa học lớn, trong đó có 2 Hội thảo quốc tế lớn là Hội thảo về ứng dụng thuật toán của bầy ong trong tối ưu hóa (3/2018) và Hội thảo quốc tế Tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS -TM (9/2018) với hơn 400 đại biểu tham gia, gần 100 nhà khoa học nước ngoài với 39 báo cáo mời của các chuyên gia hàng đầu, các nhà khoa học lớn có tên tuổi trên thế giới đến từ 14 quốc gia; Hội thảo Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức với các ngành Kỹ thuật, công nghệ (10/2018), Hội thảo quốc qia về xây dựng và phát triển các NNC trong các trường đại học Việt Nam (1/2019).

    - Ký kết hợp tác với ĐH Công nghệ Swinburne (Úc) ; ĐH Kanto Gakuin của Nhật giúp chuyển giao công nghệ và đào tạo giáo viên, đỡ đầu đào tạo ngành kỹ sư xây dựng từ khi tuyển sinh cho đến khi tốt nghiệp, đến khi xong trọn vẹn 2 khóa đầu; Ký kết hợp tác với ĐH Nguyễn Tất Thành.

    - Đặc biệt, năm 2018 đã thành lập Khoa mới (BM trực thuộc trường) Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng Giao thông (Civil Engineering). Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong sự phát triển của nhà trường và ĐHQGHN. Một sự chuyển mình mạnh mẽ, từ NNC đã phát triển thành 1 tổ chức lớn, không chỉ công bố quốc tế mà còn hướng hoạt động nghiên cứu và đào tạo phục vụ thiết thực nhu cầu phát triên kinh tế xã hội của đất nước.

    Một năm thật nhiều sự kiện, nhưng rất vui và thật đáng tự hào vì NNC đã góp phần nhỏ bé cho sự phát triển của Nhà trường, của ĐHQGHN và cho cả sự phát triển của ngành, và sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nhân tài.

    Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, các giáo sư đối tác từ UK, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, ...; cảm ơn các bạn TS trẻ, NCS, học viên cao học, sinh viên ưu tú trong và ngoài nước tham gia Nhóm nghiên cứu năm mới dồi dào sức khỏe và ngày càng thật nhiều thành công. Cảm ơn các bạn đã hết lòng hết sức, tin tưởng, đồng cam cộng khổ, đồng hành cùng tôi, kiên trì vượt qua biết bao gian nan thử thách, để xây dựng và duy trì, phát triển Nhóm nghiên cứu; sát cánh với Thầy trong sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu trong hoàn cảnh dẫu còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đầy tình thương yêu, tinh nhuệ, và thực sự đã vươn tầm quốc tế.

    Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hết lòng ủng hộ giúp đỡ của lãnh đạo ĐHQGHN, lãnh đạo trường ĐH Công nghệ, Quỹ Nafosted, VP các chương trình KHGD, Bộ KHCN, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các phòng, ban, các thầy cô và tất cả mọi người đã luôn dành cho thầy và trò trong NNC sự ủng hộ, động viên và khích lệ quý báu.

    Trong hình ảnh có thể có: 23 người, mọi người đang cười

    Read more

    Nhóm nghiên cứu là phương hướng và mục tiêu phát triển tất yếu của các đại học tiên tiến

    Với định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến, đa ngành, đa lĩnh vực, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn chú trọng việc gắn kết chặt chẽ hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học, trong đó đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Lần đầu tiên tại Việt Nam và trong khuôn khổ các trường đại học, Hội thảo quốc gia về Xây dựng và Phát triển các Nhóm nghiên cứu (NNC) trong các trường đại học Việt Nam đã được tổ chức dưới sự chủ trì của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.

    Thứ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Phúc đã đến dự và chỉ đạo Hội thảo.

    Hội thảo và kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”.

    Các đại biểu tại Hội thảo quốc gia về Xây dựng và Phát triển các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học Việt Nam

    Trưởng Ban Đào tạo ĐHQGHN GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Chủ nhiệm nhiệm vụ, đồng thời là Trưởng Ban Tổ chức của Hội thảo cho biết, mục tiêu của hội thảo là làm rõ những tiêu chí, mô hình của NNC; vai trò của NNC trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và tiềm lực KHCN của đơn vị; nghiên cứu các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của NNC; đánh giá thực trạng các NNC trong các trường đại học Việt Nam hiện nay, xác định nguyên nhân của các tồn tại hạn chế, đồng thời từ kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tiễn đề xuất ra các mô hình, cơ chế hoạt động mới, các chính sách để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cho các NNC phát triển nhanh và mạnh hơn, nhằm tạo ra những đột phá về chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam.

    Nhóm nghiên cứu là tế bào sống của hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học

    Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nhóm nghiên cứu chính là mô hình để thông qua đó gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo. Chức năng quan trọng nhất của trường đại học là truyền thụ kiến thức (giảng dạy) và sáng tạo tri thức (nghiên cứu). Trong Đại học nghiên cứu, NCKH luôn gắn kết chặt chẽ với đào tạo. Trên thế giới, danh tiếng của các trường đại học lớn thường được gắn với tầm vóc các công trình khoa học và tên tuổi các nhà khoa học phát minh ra chúng. Mặc dù vậy, nhà khoa học luôn cần có các cộng sự để tạo lập nên nhóm nghiên cứu cùng phát triển được ý tưởng khoa học, xây dựng các trường phái học thuật hoặc giải quyết các vấn đề khoa học liên ngành. Bản thân các nhóm nghiên cứu lại trở thành môi trường khoa học thuận lợi nhất để các nhà khoa học tập hợp lực lượng, trao đổi học thuật và cùng giúp nhau tiếp cận và giải quyết các vấn đề mới của khoa học. Không dừng lại ở đó, mô hình nhóm nghiên cứu ngày càng được công nhận là một phương thức và mục tiêu phát triển của các trường đại học tiên tiến. Bởi lẽ, các nhóm nghiên cứu không chỉ có vai trò thu hút các nhà khoa học tài năng, giàu chuyên môn mà còn góp phần phát triển đội ngũ nhân lực, nhất là qua hoạt động đào tạo nghiên cứu sinh. Xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh thì mới triển khai được các hoạt động nghiên cứu mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học đỉnh cao. Sự phát triển của các nhóm nghiên cứu sẽ giúp tăng các công bố quốc tế, từ đó sẽ nâng được thứ bậc và xếp hạng của các trường đại học.

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức trình bày tham luận tại Hội thảo

    Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam: đã có chính sách nhưng chưa tương xứng

    Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, trên cơ sở khảo sát từ 142/271 trường đại học, hiện nay trong hệ thống các trường đại học đã hình thành gần 950 cơ sở nghiên cứu, trung bình một trường đại học có 7 NNC. Đây là một kết quả đáng mừng, cho thấy việc tạo lập các nhóm nghiên cứu tại Việt Nam đang được đẩy mạnh, nhờ đó, đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, gia tăng công bố quốc tế rất mạnh trong 5 năm gần đây...

    Mặc dù vậy, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cùng các cộng sự đã tiến hành khảo sát để thấy được những tồn tại, hạn chế của các nhóm nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay như là số lượng các công bố quốc tế của các NNC còn khá khiêm tốn. Trong đó, có 37,5% số giảng viên của 40 trường đại học được hỏi chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus, và 34,7% chưa có công bố quốc tế nào khác. Số các giảng viên có công bố quốc tế ISI/Scopus trên 5 bài chỉ có 34,2% và hơn 60% chưa có sách chuyên khảo nào. Thêm vào đó, chỉ có 75% các nhóm nghiên cứu được khảo sát được dẫn dắt bởi các GS hoặc PGS. Đặc biệt, hạn chế lớn nhất của các NCC tại Việt Nam hiện nay là về nguồn lực khi kinh phí cho các đề tài rất khiêm tốn và thường bị cấp chậm, mặt khác, cơ sở vật chất, thiết bị đầu tư cho nghiên cứu không có, hoặc rất thiếu, hoặc không đồng bộ.

    Nhóm nghiên cứu hoạt động tại phòng thí nghiệm

    Từ kết quả trên, GS Đức đề xuất “Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm xây dựng chính sách hỗ trợ cho việc xây dựng và phát triển các NNC trong các trường đại học. Thực tế cho thấy các NNC thuộc các lĩnh vực khác nhau cần có những chính sách khác nhau. Bên cạnh đó, có thể áp dụng cơ chế khoán theo sản phẩm đầu ra cho từng NNC để thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của NNC”

    Ông Phạm Hùng Hiệp (Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Giáo dục, Trường ĐH Phú Xuân) chia sẻ, đầu tư cho các nhóm nghiên cứu tức là đầu tư cho các trưởng nhóm, đó là các nhà khoa học có trình độ, thể hiện qua sản lượng và chất lượng công bố quốc tế của họ, chính vì vậy cần thực hiện chính sách xoay quanh các nhà khoa học trình độ cao. Thực tiễn cho thấy vai trò của các nhóm nghiên cứu rất quan trọng nhưng chưa có nhiều chương trình nghiên cứu đưa ra được những tổng kết, lý luận, kinh nghiệm quốc tế cũng như kết quả của các nhóm nghiên cứu trong cả nước. Hội thảo lần này là lần đầu tiên trong cả nước, với quy mô quốc gia liên quan đến chủ đề này. Ông hy vọng trong thời gian tới, những hội thảo có ý nghĩa như vậy sẽ tiếp tục được tổ chức.

    Ông Phạm Hùng Hiệp (Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Giáo dục, Trường ĐH Phú Xuân)

    ĐHQGHN tiên phong xây dựng giải pháp cụ thể, đầu tư thiết thực cho các nhóm nghiên cứu

    Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về thực trạng và giải pháp phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐHQGHN.

    Các đại biểu trình bày báo cáo tham luận tại Hội thảo

    Với định hướng và tầm nhìn dài hạn hướng đến việc trở thành một đại học nghiên cứu, nên sứ mệnh NCKH được ĐHQGHN đặc biệt chú trọng. Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của NNC với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, ĐHQGHN đã tập trung xây dựng và phát triển các NNCM, các trung tâm xuất sắc (Center of Excellence - CEO) và các mạng lưới liên hoàn, điều này được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

    Trong nhiều năm qua ĐHQGHN đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường năng lực KH&CN cho các đơn vị thành viên, trong đó ưu tiên đầu tư nguồn lực để phát triển các NNCM như Chính sách kiện toàn hệ thống mạng lưới phòng thí nghiệm; Chính sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và đào tạo; Chính sách đổi mới quản lý nhiệm vụ KH&CN.v.v. như tính đến tháng 10 năm 2018, ĐHQGHN có tổng cộng 28 nhóm nghiên cứu mạnh. Bên cạnh đó, ĐHQGHN còn có trên 100 nhóm nghiên cứu khác nhau được chia theo 4 loại hình nghiên cứu gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu liên ngành.

    Khoa học ứng dụng và khoa học liên ngành phát triển, đòi hỏi các nhóm nghiên cứu phải phát triển theo nhóm đa ngành và liên ngành, thay vì đơn ngành như trước đây. Nhận thức được xu thế đó, ĐHQGHN đã quy hoạch, sắp xếp các nhóm nghiên cứu gắn với các mục đích khác nhau như nhóm nghiên cứu chỉ phục vụ công tác đào tạo, thực hành, thực nghiệm của sinh viên; nhóm nghiên cứu để phát triển các công bố quốc tế; nhóm nghiên cứu để triển khai nhiệm vụ ứng dụng hoặc nhóm nghiên cứu mạnh để tạo ra những sản phẩm tiêu biểu đặc sắc. Sự phân cấp trong quản lý, tổ chức và đầu tư các nhóm nghiên cứu của ĐHQGHN đã giúp mô hình này ngày càng phát triển và đạt được các chỉ tiêu đặt ra, góp phần quan trọng thúc đẩy xếp hạng ĐHQGHN trong nước và trên trường quốc tế.

    Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Vũ Văn Tích, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ, ĐHQGHN cho biết “trong thời gian đầu, ĐHQGHN hướng tới tổ chức các nhóm nghiên cứu để tạo ra một đại học định hướng nghiên cứu, góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, nhưng bên cạnh đó, ĐHQGHN cũng đang chuyển theo hướng đổi mới, sáng tạo và đưa ra các sản phẩm khoa học để kết nối với các doanh nghiệp, để từ đó các doanh nghiệp có thể bỏ kinh phí, nguồn lực, phương pháp và công nghệ để sát cánh cùng các nhà khoa học trong việc tạo ra các sản phẩm mang tính ứng dụng cao. Chính vì vậy, trong thời gian tới, ĐHQGHN sẽ tiến hành đầu tư, phát triển các phòng thí nghiệm mang tính nghiên cứu triển khai và thương mại hóa nhiều hơn để tích hợp với các doanh nghiệp nhằm đưa các nhóm nghiên cứu gắn với doanh nghiệp để cùng giải quyết vấn đề của từng địa phương”

    Phát biểu kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc khẳng định việc nâng cao chất lượng, kết quả của hoạt động NCKH và xây dựng các NNC trong các trường đại học là hai hoạt động quan trọng. Trong những năm qua, mô hình NNC được triển khai ở ĐHQGHN và một số trường đại học khác ban đầu đã có những kết quả và thành tích tốt trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Điều đó cho thấy khi một đơn vị có cơ chế khoa học công nghệ tốt có khả năng khuyến khích, tạo động lực giải phóng sức sáng tạo khoa học và sức làm việc của các thầy/cô, nhà khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học. Trong thời gian tới, để thúc đẩy sự phát triển của NCKH, Bộ GD&ĐT và Bộ KHCN sẽ tham mưu Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách để hình thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu mạnh thực sự và sống được bằng khoa học.

    Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc phát biểu kết luận tại Hội thảo

    Read more

    GS Nguyễn Đình Đức: Công nghiệp 4.0: Việt Nam muốn vươn lên thành “con rồng, con hổ” thì phải đào tạo nhân tài

    HỘI THẢO VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP:

    Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 sẽ đem đến những thay đổi mang tính đột phá trên mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh trong xã hội Việt Nam. Các đơn vị đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ với vai trò là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho các hoạt động sản xuất và nghiên cứu, và cũng là nơi thực hiện những nghiên cứu tiên phong cho đất nước, sẽ cần có nhận thức và nhanh chóng thực hiện những thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu của mình.

    Trong bối cảnh đó, sáng ngày thứ Bảy 27/10, trường Đại học Việt Nhật, Đại học quốc gia Hà Nội, phối hợp với trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Hội Cơ học Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với tựa đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức với các ngành Công nghệ - Kỹ thuật”.

    Hội thảo có sự tham gia của các nhà quản lý và các nhà khoa học, các chuyên gia đến từ ĐHQGHN, ĐH Bách Khoa, Học viện KTQS, ĐH Xây dựng, ĐH giao thông, ĐH Nguyễn Tất Thành, ĐH Việt Nhật, ĐH KH tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Thái nguyên, ĐH Thủy lợi, Viện KHCN Việt Nam, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN Giao thông, Tổng Công ty CONINCO, VBPO,..….với nhiều giáo sư đầu ngành, các chuyên gia trong các lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ và quản lý giáo dục, các cơ quan báo chí. Tới dự Hội thảo còn có đại diện Vụ Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), lãnh đạo Trung tâm Kiểm định Chất lượng (ĐHQGHN), Vụ Đại học (Bộ giáo dục và Đào tạo), Cục KHCN Quân sự (Bộ Quốc phòng),…

    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Tổ chức của Hội nghị cho biết: Hội nghị được tổ chức nhằm làm sâu sắc hơn những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cũng như những thách thức, cơ hội đối với các ngành Công nghệ - Kỹ thuật của Việt Nam, hướng đến cải tiến chương trình đào tạo hiện nay, đề xuất chương trình đào tạo mới cho các trường đại học, đồng thời thảo luận để đưa ra các định hướng nghiên cứu, tập hợp lực lượng và xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mới trong các trường đại học, các viện nghiên cứu vế công nghệ - kỹ thuật, phù hợp với xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

    Các diễn giả đã trình bày các tham luận không chỉ từ quan điểm của đơn vị đào tạo và nghiên cứu, mà còn xuất phát từ nghiệp vụ thực tế trong sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, với mong muốn sao cho việc đào tạo và nghiên cứu sẽ đáp ứng được tốt nhất cho nhu cầu thực tiễn của xã hội, tạo bước chuẩn bị đầy đủ để cuộc cách mạng công nghệ 4.0 sẽ đem lại những lợi ích và lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghệ, kỹ thuật của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Lịch sử cho thấy Mỹ, Anh,... và các nước công nghiệp phát triển đã tận dụng và nắm bắt được cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,... đã nắm bắt được cơ hội ở cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Hội thảo cho rằng Việt Nam có  thể tận dụng được lợi thể và nắm bắt được cơ hội ở cuộc cách mạng công nghiệp  lần thứ 4  để vươn lên thành “con rồng, con hổ” của châu Á và thế giới trong thế kỷ 21.

    Tại hội thảo, các báo cáo cho thấy mô hình đại học trong cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã thay đổi. Để có thể đáp ứng nhu cầu của thời đại, các chuyên gia đề xuất sự thay đổi trong triết lý đào tạo: Thời đại mới, các đại học nghiên cứu chuyển mình sang các đại học đổi mới sáng tạo, gắn kết và chuyển đổi mạnh mẽ các kết quả nghiên cứu với các công nghệ kỹ thuật mới và doanh nghiệp. Vì vậy, đầu ra, người học phải đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Và ngoài kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ và CNTT, các trường đại học phải cung cấp và trang bị cho người học theo hướng giáo dục khai phóng và STEM, và từ đó phải cơ cấu lại các chương trình đào tạo.

    Ngoài kiến thức nền tảng, kiến thức của ngành và chuyên ngành, ngoại ngữ, CNTT và kỹ năng mềm  như hiện nay, các chuyên gia cũng kiến nghị chương trình đào tạo phải đổi mới nhằm trang bị được cho người học tầm nhìn, kỹ năng thu thập, xử lý và kiểm soát thông tin, có tầm nhìn, có khát vọng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp ... Bên cạnh đó, các ý kiến thảo luận cũng cho rằng còn phải đẩy mạnh đào tạo STEM cho các khối ngành kỹ thuật-công nghệ và tư duy phát triển bền vững cho người học.

    Hội thảo cũng đề cập đến những công nghệ đào tạo mới, phương pháp dạy và học mới trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, và cho rằng đào tạo tài năng, chất  lượng cao theo xu hướng cá thể hóa đang là xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0.

    Ngày nay, những lĩnh vực kỹ thuật công nghệ thường có tính liên ngành, xuyên ngành và cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng xóa nhòa ranh giới giữa các ngành kỹ thuật công nghệ, và nhờ những ứng dụng của các công nghệ mới mở ra nhiều cơ hội việc làm, cơ hội kinh doanh và cơ hội phát triển cho mọi người, mọi cơ quan tổ chức, và những ai không nhanh chóng nắm bắt những cơ hội sẽ nhanh chóng bị tụt hậu.

    Các chuyên gia cũng nhận thấy trong lĩnh vực CNTT và truyền thông, chúng ta được thích ứng khá nhanh. Tuy nhiên, còn 2 trụ kiềng quan trọng nữa của cách mạng công nghiệp 4.0 là tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, chúng ta phải đầu tư để phát triển nhanh và mạnh hơn nữa.

    Hội thảo cũng đã trao đổi thông tin về những thay đổi và đáp ứng khá nhanh của một số trường đại học của Việt Nam, như ĐHQGHN hiện nay bên cạnh CNTT, Điện tử viễn thông, Cơ học Kỹ thuật, Cơ điện tử đã bắt tày vào tuyển sinh và đào tạo ngành/chuyên ngành mới như Robotic, Công nghệ hàng không vũ trụ, Công nghệ nano, Năng lượng mới, An ninh phi truyền thống, Khoa học dữ liệu, Phát triển bền vững, Biến đổi khí hậu,…

    Để đáp ứng với yêu cầu nguồn nhân lực, các đại biểu cũng cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam còn phải phát triển mạnh mẽ ngành Tự động hóa và điều khiển; ngoài sử dụng dữ liệu lớn, điện toán đám mây để truyền tải và lưu trữ thông tin, còn phải nghiên cứu và phát triển về tích hợp hệ thống (System Integration), Công nghệ tương tác thực tế (Augmented Reality), và đương nhiên vấn đề sống còn không thể đầu tư để đào tạo và nghiên cứu là an ninh, an toàn thông tin (Cyber Security) và các vật liệu tiên tiến, vật liệu thông minh để ứng dụng cho các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mới

    Bên cạnh đào tạo và thích ứng, chuyển giao công nghệ, để tiếp cận với trình độ của thế giới và làm chủ các công nghệ lõi, các chuyên gia tại hội thảo cũng đề nghị Việt Nam cần có chiến lược để tập hợp lực lương trong và ngoài nước nhằm xây dựng bằng được các nhóm nghiên cứu mạnh, các viện nghiên cứu tiên tiến, các trung tâm xuất sắc trong các lĩnh vực CN-KT chủ chốt của cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là sứ mạng  quan trong của nhiều cơ quan, tổ chức, bộ ngành như Bộ KHCN, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông,….và các trường đại học, các viện nghiên cứu.

    Tại hội thảo, các đại biểu từ ĐH Bách khoa, ĐH Công nghệ, Học viện KTQS, ĐH Nguyễn Tất Thành,…..cũng đã  thảo luận về việc phối hợp xây dựng và hình thành các nhóm nghiên cứu mới liên ngành, liên đơn vị trong lĩnh vực vật liệu thông minh, khoa học dữ liệu, CNTT, trí tuệ nhân tạo,….

    Hội thảo cũng thảo luận  và đề xuất giải pháp về hệ thống giao thông thông minh ở Việt Nam, cũng như một số xu hướng ngành xây dựng thời đại kỹ thuật số như công nghệ BIM 6D (tính toán thiết kế 3D đồng thời với các tham số như thời gian, chi phí và tối ưu nguồn năng lượng); thiết kế và xây dựng các công trình xanh, tòa nhà xanh,…

     

    Hội thảo cũng nhất trí cho rằng, để tất cả những chiến lược và đổi mới thành công, để Việt Nam theo kịp với cách mạng công nghiệp 4.0, bài học của các nước cho thấy mấu chốt là cần có nhân tài.  Chúng ta cần tập hợp, tạo mọi điều kiện phát huy nguồn lực trí thức trẻ đã tiếp cận được với tri thức khoa học tiên tiến trên khắp thế giới để nắm bắt những cơ hội của tương lai. Thu hút và sử dụng nhân tài vừa là cơ hội, vừa là thách thức của Việt Nam hiện nay.

    Sự thành công của Hội thảo này đánh dấu sự nhận thức và chuyển mình tích cực của các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam trong việc triển khai các giải pháp cụ thể trong tổ chức đào tạo và nghiên cứu, phát triển các lĩnh vưc mới để góp phần hiệu quả trong sự nghiệp đưa Việt Nam bứt phá đi lên trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    Read more