Ngành công nghệ kỹ thuật xây dựng

    Trải nghiệm thực tế cho sinh viên ngành kĩ sư Công nghệ kĩ thuật xây dựng và Cơ học kỹ thuật, chuyên ngành Vật liệu và kết cấu tiên tiến

    hời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi bức tranh của thị trường lao động, đặt ra thách thức và làm thay đổi mạnh mẽ nhu cầu về nguồn nhân lực, cơ cấu ngành nghề và trình độ. Do vậy, yêu cầu về giáo dục ở thời điểm hiện tại không chỉ chú trọng vào việc truyền tải kiến thức hàn lâm, mà còn phải đáp ứng nhu cầu xã hội, đào tạo gắn với thực tiễn.

    Vì vậy việc tăng cường, hợp tác phát triển đào tạo gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp là điều có ý nghĩa  quan trọng. Hiểu được điều đó, trong quá trình đào tạo, trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) luôn đặc biệt chú trọng hợp tác với doanh nghiệp và đã đem lại những thành công nhất định.

    Nối tiếp sự thành công trong công tác hỗ trợ sinh viên thực tập tại các doanh nghiệp, năm nay, Bộ môn Công nghệ xây dựng – giao thông (K62XD, K63XD) và chuyên ngành Vật liệu và Kết cấu tiên tiến – Cơ kỹ thuật (K62H) do GS. TSKH Nguyễn Đình Đức làm chủ nhiệm tiếp tục nhận được sự quan tâm và tạo điều kiện sắp xếp cho 39 suất sinh viên tham gia thực tập một học kỳ tại các doanh nghiệp. Cụ thể là, Công ty Fecon nhận 20 sinh viên thực tập, Công ty Coninco nhận 12 sinh viên thực tập, Công ty Chodai nhận 04 sinh viên thực tập và Nissan 03 sinh viên.

    Lễ kí kết hợp tác giữa trường ĐH Công nghệ và công ty CONINCO

    Thông qua việc đồng hành tại các doanh nghiệp, sinh viên – các kỹ sư tương lai đã có thời gian một học kỳ thực tập, làm việc tại doanh nghiệp để được trau dồi kiến thức thực tế, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo. Việc được trải nghiệm công việc thực tế tại các doanh nghiệp sẽ giúp sinh viên  hoàn thiện kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm và tính kỷ luật để sau này đáp ứng tốt yêu cầu công tác khi ra trường.

      Một số hình ảnh liên quan tới kì thực tập:

    Read more

    Y tế thông minh – Thành phố thông minh

    Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kéo theo cuộc sống xã hội ngày càng phát triển. Cùng với đó, tăng trưởng dân số và đô thị hóa cũng đang bùng nổ dẫn đến việc đổi mới để tích hợp công nghệ vào thiết kế dịch vụ thành phố. Chính điều này đã tạo nên bản chất của thành phố thông minh.

    Thành phố thông minh là mô hình ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để quản lý, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống của con người. Thành phố thông minh phụ thuộc nhiều vào cảm biến để nhận biết thông số như nhiệt độ, độ ẩm, chất gây dị ứng, điều kiện giao thông và tình hình lưới điện….Ở thành phố thông minh, các công nghệ được liên kết với nhau chủ yếu thông qua các thiết bị cảm biến; các thành phố kết nối với nhau bởi mạng Wi-Fi ( trong tương lai sẽ là mạng Li-Fi với công nghệ truyền Internet bằng ánh sáng, nó có thể thay thế hoàn toàn Wi-Fi với tốc độ kết nối nhanh hơn và tính bảo mật cao hơn do ánh sáng không thể truyền qua tường [1] ). Vì được kết nối với nhau bởi mạng lưới internet, nên thành phố thông minh sẽ hỗ trợ rất nhiều cho giao thông vận tải; hệ thống năng lượng; giải quyết các vấn đề môi trường và phản hồi khẩn cấp các vấn đề an ninh xã hội;… đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe một cách thông minh.

    Vậy tại sao chăm sóc sức khỏe lại là một cơ sở quan trọng hàng đầu của thành phố thông minh? Chúng ta cần làm gì để có thể chăm sóc sức khỏe một cách thông minh nhất?

    Một thành phố phát triển, đòi hỏi con người cần phải có nhiều sự sáng tạo. Nhưng để phục vụ cho việc sáng tạo, đổi mới thì sức khỏe con người phải đặt lên hàng đầu. Một thành phố có những công dân khỏe mạnh thì thành phố đó sẽ được cân bằng trong mọi lĩnh vực. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngành y tế đang chứng kiến sự tiến bộ trong vài năm qua. Nhưng với dân số và lối sống đô thị ngày càng tăng, việc chăm sóc sức khỏe công dân một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn càng trở nên quan trọng. Chăm sóc sức khỏe thông minh là việc sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông để cải thiện việc chăm sóc sức khỏe cho con người, biến chăm sóc sức khỏe theo truyền thống thành chăm sóc sức khỏe thông minh.

    Hiện nay, có nhiều thiết bị công nghệ giúp con người có thể chăm sóc sức khỏe một cách thông minh nhất. IoT ( Internet of thing hay internet kết nối vạn vật) đã thay đổi rất nhiều về cách chúng ta sống, làm việc và giữ gìn sức khỏe. Công nghệ IoT ngày càng trở nên có ảnh hưởng hơn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bằng cách giúp các nhà cung cấp dịch vụ y tế dễ dàng theo dõi bệnh nhân giữa các lần thăm khám [2]. Đồng thời giúp đưa ra các phác đồ điều trị trong tương lai một cách hiệu quả và kịp thời. Nhờ vậy bệnh nhân được chăm sóc tốt hơn.

    Trí thông minh nhân tạo (AI hay Artifical Interlligence ) cũng đang ngày càng chứng minh khả năng thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trong tương lai không xa. Trí tuệ nhân tạo được sử dụng để đánh giá và đưa ra các kết quả có thể xảy ra để tìm ra các giải pháp ứng phó kịp thời. Đặc biệt, khi các bác sĩ chuyên khoa ở các vị trí khác nhau; với sự giúp đỡ của Robot, các bác sĩ vẫn có thể liên lạc, chuẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân một cách dễ dàng.[3]

    Mặc dù vậy, nhưng chúng ta cũng đối mặt với không ít thách thức khi sử dụng các công nghệ thông minh như các mối đe dọa an ninh do các thiết bị thông minh hoạt động và liên kết với nhau thông qua mạng Wi-Fi nên có thể bị các hacker tấn công dữ liệu; vấn đề tích hợp nhiều thiết bị; vấn đề phân tích và đưa ra kết quả từ dữ liệu mở rộng. Không chỉ dừng lại ở đó, trí tuệ nhân tạo cũng có thể trở thành một mối nguy cơ lớn nếu nó được lập trình với những mục đích xấu.

    Ở khu vực Nam Thái Bình Dương, Úc đã phải làm việc rất tích cực trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của mình. Quốc gia này đang đặt mục tiêu tăng gấp đôi chỉ tiêu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong những năm tới. Kế hoạch này là tích hợp hệ thống y tế thông qua các kết nối tốt hơn, tích hợp dữ liệu, hồ sơ không cần giấy tờ, hiệu quả được cải thiện và thực hành nghiên cứu tốt hơn. Tại đại học Melbourne, họ đang thu thập các dữ liệu từ các các bệnh viện và phòng khám khác nhau để từ đó biên soạn ra một kho lưu trữ duy nhất. Dữ liệu được thu thập sẽ cho phép R & D tốt hơn và cung cấp giải pháp hiệu quả để điều trị ung thư và động kinh.[4]

    Trong xu thế của cuộc cách mạng 4.0, y tế Việt Nam cũng đã từng bước tiếp cận với xu thế này để đẩy mạnh trong việc chăm sóc sức khỏe. Không dừng lại ở lý thuyết, Việt Nam cũng đang bắt đầu tiếp cận với việc thử nghiệm và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam đều đã có các phần mềm quản lý bệnh viện bằng số hóa. Không dừng lại ở đó, tại một bệnh viện trung ương ở tỉnh Phú Thọ cũng đang thử nghiệm công nghệ “Watson For Oncology ” để giúp các bác sĩ đưa ra các pháp đồ điều trị ung thư một cách tối ưu nhất [5]. Tuy nhiên ta cũng gặp không ít khó khăn trong lĩnh vực này do Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống thông minh riêng nào trong việc chăm sóc sức khỏe mà hầu hết phải dựa vào sự hợp tác của nước ngoài chủ yếu là Hoa Kỳ.

    Như vậy, để có một hệ thống y tế thông minh, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển thiết bị y tế; phát triển nhân lực và khoa học – công nghệ đồng thời tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế để tìm ra các giải pháp thông minh cho việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Cùng với sự giúp đỡ của IoT và trí tuệ nhân tạo sẽ là tiền đề mở ra một kỷ nguyên mới trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe hiện đại cho các thành phố ở Việt Nam.

    Sinh viên: Đỗ Minh Khang K62 XD_GT

    Tài liệu tham khảo

    [1] http://genk.vn/day-la-li-fi-cong-nghe-truyen-mang-internet-bang-anh-sang-co-the-thay-the-hoan-toan-wi-fi-trong-tuong-lai-20170214150611538.chn

    [2] https://techinsight.com.vn/iot-giai-phap-cham-soc-suc-khoe-cho-tuong-lai/

    [3] https://www.researchgate.net/publication/322605918_Using_Smart_City_Technology      to_Make_Healthcare_Smarter

    [4] https://www.smartcity.press/smart-healthcare-for-smart-cities/

    [5] https://www.youtube.com/watch?v=RXB6vKiRxKg

    Read more

    Chương Trình Đào Tạo Ngành CNKTXD

    Một số thông tin về chương trình đào tạo

    • Tên ngành đào tạo:

    + Tiếng Việt: Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng

    + Tiếng Anh: Civil Engineering and Technology

    • Mã số chuyên ngành đào tạo: 7510103
    • Danh hiệu tốt nghiệp: Kỹ sư
    • Thời gian đào tạo: 4.5 năm
    • Tên văn bằng tốt nghiệp:

    Ghi rõ tên ngành thí điểm/chuyên ngành trên văn bằng:

    + Tiếng Việt: Kỹ sư Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng

    + Tiếng Anh: Engineer in Civil Engineering and Technology

    • Đơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo: Trường Đại học Công Nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
    Read more

    Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành CNKTXD

    Mục tiêu tổng quan của chương trình đào tạo Kỹ sư ngành Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng là đào tạo cho sinh viên kiến thức về kỹ thuật, công nghệ quy hoạch, thiết kế, thi công, vận hành và quản lý các công trình xây dựng, cơ sở hạ tầng. Trên cơ sở đó, sinh viên có thể nghiên cứu, ứng dụng kiến thức chuyên ngành, liên ngành và thực tế xã hội để giải quyết các vấn đề liên quan đến các công trình xây dựng và kỹ hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, vùng hiện nay đang gặp phải.

    Read more

    Nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực xây dựng

    Kết quả hình ảnh cho xây dựngXây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng cơ sở cho mỗi quốc gia là lĩnh vực quan trọng, nhiệm vụ này phải đi trước, hoàn thiện trước để hỗ trợ, kích thích các lĩnh vực hoạt động công nghiệp, kinh tế xã hội hoạt động và phát triển thuận lợi hơn. Tất cả các nước phát triển đều có hệ thống hạ tầng cơ sở về giao thông, xây dựng, công nghiệp, thủy lợi … với quy mô, hoàn thiện khả năng khai thác cao. Ở các nước tư bản phát triển như Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản thời kỳ những năm thập kỷ 70 và 80, cùng với tốc độ phát triển kinh tế vũ bão thì đã bắt đầu có nhu cầu rất lớn về xây dựng hệ thống công trình hạ tầng cơ sở. Trong khối lượng xây dựng khổng lồ đó đã nảy sinh rất nhiều các vấn đề liên quan đến thực tiễn xây dựng như vật liệu mới có tính năng, cường độ cao hơn, các công nghệ mới có năng lực vận hành tốt hơn, các quy trình thiết kế mới vừa đảm bảo tính an toàn nhưng đồng thời đem lại các hiệu quả kinh tế kỹ thuật. Để đáp ứng được các đòi hỏi như vậy thì đội ngũ về nhân lực cũng cần phải được chuẩn bị, đào tạo về mọi mặt và ở các cấp độ khác nhau.

    Read more